Nét riêng của đô thị Huế
Thành phố Huế nổi tiếng với tám ngôi làng cổ, tạo nên một kiến trúc độc đáo. Làng Phú Xuân, phường Phú Xuân là ngôi làng có lịch sử lâu đời nhất ở Huế. Trải qua những lần thay đổi về mặt hành chính, các ngôi làng được tái xây dựng thành các khu đô thị mới. Trên nền đất ruộng xưa, những dãy nhà phố, căn hộ liền kề mọc lên san sát.
Nhà nghiên cứu Hồ Vĩnh, hiện đang sinh sống tại Khu đô thị mới An Cựu City, phường An Cựu cho biết: “Mấy chục năm về trước, khu vực An Cựu City này là vùng đất trồng lúa. Khi phân chia lại đất để xây dựng, khoảng không gian trống dần mất đi. Những ngôi làng ở xa phố như Phú Xuân hay Thủy Biều thì ít bị đô thị hóa tác động đến”.
Thực tế cho thấy, mật độ xe cộ lưu thông, số lượng các tuyến phố ở khu vực An Cựu City cao hơn hẳn so với làng Phú Xuân. Khi đi khảo sát các làng cổ, ông Vĩnh chú trọng đến yếu tố con người trong việc bảo vệ những giá trị riêng của Huế. Từ những ngôi nhà riêng lẻ đến khu dân cư, rộng hơn là cả thành phố, cái “rỗng” trong mỗi không gian cần được chủ thể sống ở đó hiểu và bố trí hợp lý hơn. “Đi thăm những ngôi nhà vườn ở phường Thủy Xuân, tôi thấy tỷ lệ một phần tư giữa nhà và vườn vẫn được người dân gìn giữ. Đó là nếp sống theo kiểu thiên nhiên, “nhà quê” gói mình trong thành phố”, nhà nghiên cứu Hồ Vĩnh chia sẻ.
Những năm gần đây, tình trạng ngập lụt ở thành phố Huế có những thay đổi nhất định. Với việc nhà cửa, các khu đô thị mới được xây dựng kèm theo hệ thống thoát nước hiệu quả đã giúp giảm thiểu việc ngập úng kéo dài. Từ các làng cổ đến những khu nhà cao tầng, yếu tố khoảng rỗng vẫn còn tồn tại và đã phát huy được lợi thế nhất định. Với sự phát triển của một thành phố như Huế, vai trò và tác động để lại của đô thị hóa cần được cân đối. Ông Vĩnh nhấn mạnh: Để đời sống người dân ngày càng đi lên thì không thể bỏ qua yếu tố đô thị hóa, cơ sở hạ tầng. Điều then chốt là cần tìm và tạo ra không gian chung cho cộng đồng, khu dân cư.
Nhà và vườn cùng hòa hợp
Làng Thủy Biều (còn có tên gọi là Nguyệt Biều) nằm ở thượng lưu bờ nam sông Hương, đối ngạn là các làng Long Hồ, An Ninh và Xuân Hòa. Phía trên làng Thủy Biều giáp làng Lương Quán, phía dưới giáp làng Dương Xuân Thượng. Dòng sông Hương đoạn từ ngã ba Tuần chảy về đến khu vực làng Lương Quán bắt đầu uốn quanh, bao bọc phía tây và phía đông của làng Thủy Biều. Theo nhà nghiên cứu Hồ Vĩnh, từ những năm 1980, các rặng tre và rừng cây thông được người dân trồng dày đặc ở khu vực ngã ba Tuần, từ đó mở rộng ra tứ phía. Việc gìn giữ thiên nhiên, gia tăng diện tích trồng cây xanh, thảm cỏ cho vùng ven kinh thành Huế cũng như các làng cổ đã hình thành từ giai đoạn đó. Ngoài việc giúp tạo cảnh quan, thảm cỏ còn đóng vai trò quan trọng trong việc giữ mạch nước ngầm ở các làng cổ.
Đánh giá về yếu tố thiên nhiên tại làng Thủy Biều, nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh cho rằng, vào mùa mưa lũ, dòng nước sông Hương làm xói lở bờ Ngọc Hồ, Long Hồ, Xước Dũ, tạo thành vùng đất chứa phù sa màu mỡ. Đất đai làng Thủy Biều nhận được lớp phù sa dày, thích hợp với các giống dưa, bắp phát triển. Vườn bưởi thanh trà Thủy Biều cho quả ngọt thơm cũng nhờ chất đất này. Thủy Biều vốn là một làng cổ gắn liền với nghề nông, người dân trồng lúa hai vụ/năm. Ngoài ra, những khoảng đất trống trong làng được tận dụng trồng hoa màu. Đó là các bãi đất ven làng. Hiện nay, hình thức trồng trọt trên đất bãi vẫn còn phổ biến, là cách trồng hoa màu chủ yếu ở Thủy Biều.
Nói về điểm đặc trưng, thú vị của ngôi làng gần 500 năm tuổi này, ông Hồ Xuân Đài (86 tuổi, chủ nhân nhà vườn Xuân Đài) cho biết: “Đại đa số đất đai của làng Thủy Biều là đất hương hỏa, được ông bà ngày xưa để lại. Quỹ đất rất rộng nhưng chúng tôi chỉ sử dụng một phần nhỏ trong đó để xây dựng nhà cửa. Ông bà ngày trước luôn muốn không gian sống của gia đình phải có khoảng trống, thoáng mát. Sân vườn rộng, cây cối phủ bóng sum suê là nhờ vậy”.
Kế bên khu vườn 1.000 m² của ông Đài, mảnh đất nhà hàng xóm có diện tích rộng gấp đôi. Không cần hàng rào kiên cố bằng lưới thép hay bê-tông, vườn cách vườn chỉ bằng hàng cây chè tàu cao ngang ngực. Ngay cả phần ranh giới đất đai, người làng Thủy Biều cũng sử dụng “vật liệu xanh” để tạo nên. Khoảng rỗng đã và đang tồn tại khắp nơi ở làng Thủy Biều. Đó là khoảng đất được gia chủ đào giếng, xây hồ cá, hòn non bộ, trồng những giàn hoa… theo kiến trúc nhà vườn Huế. Tất cả cùng góp phần định hình phong cách sống thoáng đãng, gắn liền với thiên nhiên.
Nằm cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5 km, sự phát triển của đô thị hóa ít nhiều đã tác động đến làng Thủy Biều. Tuy nhiên, ông Hồ Xuân Đài khẳng định, từ xưa đến nay, chất quê, khoảng rỗng hay khoảng trống là điểm nhận dạng đầu tiên của ngôi làng cổ này. Các thế hệ người dân trong làng đặt mục tiêu gìn giữ bối cảnh nhà và vườn cùng tồn tại. Đó là cách họ tận hưởng cuộc sống trong lành, tươi mát nhất.