Tồn tại và phát triển hơn 100 năm, làng nghề bánh phồng Sơn Đốc không chỉ là nơi làm ra loại thực phẩm dân dã, mà còn là không gian lưu giữ ký ức văn hóa, phong tục và nhịp sống của bao thế hệ người dân địa phương.
Câu ca quen thuộc “Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc” đã đi vào đời sống dân gian như sự khẳng định về chất lượng, danh tiếng và niềm tự hào của đặc sản miền Tây Nam Bộ.
Theo bậc cao niên trong làng, nghề làm bánh phồng ở Sơn Đốc hình thành từ hơn trăm năm trước, khi người dân nơi đây tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có như nếp sáp, mì (sắn), đường và dừa để chế biến những chiếc bánh vừa thơm, vừa béo, vừa giòn, phù hợp khẩu vị cư dân vùng sông nước.
Trải qua bao biến động lịch sử, sự thay đổi của cơ chế thị trường và nhịp sống hiện đại, nghề làm bánh phồng vẫn được người dân Sơn Đốc gìn giữ, trao truyền từ đời này sang đời khác...
Để làm ra chiếc bánh phồng đạt chuẩn, người thợ phải dậy từ rất sớm. Nếp được ngâm đủ độ, nấu chín thành xôi rồi giã nhuyễn cùng đường và nước cốt dừa. Khâu giã bột đòi hỏi sự dẻo dai, đều tay để bột mịn, không vón cục. Sau đó, bột được chia phần, cán mỏng, tạo hình tròn đều tăm tắp rồi phơi dưới nắng tự nhiên. Nắng càng đều, bánh càng khô đẹp, khi nướng sẽ phồng to, giòn xốp, tỏa mùi thơm đặc trưng.
Trước đây, hầu hết các công đoạn được thực hiện hoàn toàn thủ công, tốn nhiều công sức và thời gian. Những ngày giáp Tết, cả xóm cùng nhau quết bánh, nhà này giúp nhà kia theo kiểu “dần công”, không khí lao động rộn ràng, chan hòa tiếng cười.
Bánh phồng không chỉ là món ăn, mà còn là sợi dây gắn kết cộng đồng, là ký ức không thể phai mờ của nhiều thế hệ. Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, các cơ sở sản xuất bánh phồng ở Sơn Đốc đã mạnh dạn đầu tư máy móc vào một số công đoạn như quết bột, cán bánh, tráng bánh. Việc cơ giới hóa giúp nâng cao năng suất, giảm lao động nặng nhọc, đồng thời bảo đảm sản phẩm đẹp mắt, đồng đều hơn.
Tuy vậy, các khâu quan trọng như pha trộn nguyên liệu, phơi bánh dưới nắng tự nhiên vẫn được gìn giữ theo phương pháp truyền thống để giữ trọn hương vị đặc trưng.
Hiện nay, làng nghề Sơn Đốc sản xuất nhiều sản phẩm như bánh phồng nếp, bánh phồng mì, bánh phồng mì béo, bánh phồng nhỏ dùng gói xôi, bánh phồng mì dán chuối... đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú của thị trường. Sản phẩm không chỉ tiêu thụ trong tỉnh mà còn được đưa đi khắp các tỉnh, thành phố cả nước, nhất là dịp Tết Nguyên đán.
Năm 2018, nghề làm bánh phồng Sơn Đốc vinh dự được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đây là sự ghi nhận xứng đáng đối với giá trị văn hóa, lịch sử và tính bền vững của một làng nghề truyền thống, đồng thời tạo thêm động lực để người dân tiếp tục gắn bó, phát huy tinh hoa nghề tổ trong bối cảnh hội nhập.
Những ngày cận Tết, không khí sản xuất ở Sơn Đốc trở nên tất bật hơn bao giờ hết. Tranh thủ thời tiết nắng ráo, nhà nhà hối hả làm bánh để kịp giao cho thương lái. Dọc các tuyến đường trong làng, đâu đâu cũng bắt gặp hình ảnh những tấm chiếu lớn, nhỏ trải kín, trên đó là hàng nghìn chiếc bánh phồng phơi dưới nắng.
Ông Lê Văn Xỏng, 79 tuổi, ngụ ấp Hưng Bình, là thế hệ thứ ba nối nghiệp làm bánh phồng của gia đình. Nhìn những mẻ bánh phơi trắng sân, ông bồi hồi nhớ lại: “Nghề làm bánh phồng không biết có từ khi nào, nhưng bà ngoại rồi mẹ, dì tôi đều theo nghề. Gia đình tôi làm bánh mấy chục năm, rồi truyền lại cho con trai. Ngày xưa làm bánh hoàn toàn thủ công, từ quết bột, cán bánh đến phơi bánh nên rất cực. Nhưng đến lễ, Tết là cả xóm quết bánh giúp nhau rất vui”.
Theo ông Xỏng, trước đây, bánh phồng chủ yếu làm để dùng trong gia đình vào dịp lễ, Tết, đám cưới, đám giỗ. Dần dần, do bảo quản được lâu, bánh phồng được làm nhiều hơn để bán cho người dân trong vùng, rồi hình thành làng nghề như ngày nay.
Tiếp nối truyền thống gia đình, anh Lê Trúc Lâm, 43 tuổi, con trai ông Xỏng, đã mạnh dạn đầu tư máy móc, mở rộng sản xuất. Anh Lâm cho biết: “Mỗi ngày, cơ sở sản xuất khoảng 8.000 chiếc bánh phồng để cung ứng cho thương lái tiêu thụ khắp cả nước. Cơ sở có hai sản phẩm đạt chứng nhận OCOP 3 sao gồm bánh phồng mì dán chuối và bánh phồng mì béo. Thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục cải tiến mẫu mã, đa dạng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng”.
Không chỉ mang lại nguồn thu cho các hộ sản xuất, nghề làm bánh phồng còn giải quyết việc làm ổn định cho nhiều lao động địa phương. Cơ sở của anh Lâm hiện tạo việc làm cho bảy lao động với thu nhập từ 4,5-6 triệu đồng/người/tháng.
Bà Nguyễn Thị Kim Ngân, 45 tuổi, gắn bó với nghề hơn 10 năm, chia sẻ: “Nghề này, thu nhập không cao nhưng công việc ổn định, phù hợp với phụ nữ, người cao tuổi. Nhờ nghề làm bánh phồng, tôi có điều kiện nuôi con gái đang học đại học”.
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Hưng Nhượng Bùi Văn Một cho biết: Làng nghề bánh phồng Sơn Đốc có 25 cơ sở sản xuất bánh phồng và 26 cơ sở sản xuất bánh phồng mì dán chuối. Trung bình mỗi năm, làng nghề cung ứng ra thị trường khoảng 25 triệu chiếc bánh phồng các loại.
Qua hơn 100 năm hình thành và phát triển, làng nghề đã góp phần tạo nét riêng, đặc trưng cho địa phương và trở thành đặc sản nổi tiếng. Tại làng nghề có Hợp tác xã Bánh phồng Sơn Đốc với 20 thành viên. Đến nay, làng nghề có ba chủ thể với bảy sản phẩm bánh phồng đạt chuẩn OCOP 3 sao.
Thời gian tới, địa phương chú trọng gắn kết làng nghề truyền thống với du lịch trải nghiệm. Du khách đến Sơn Đốc không chỉ được tận mắt chứng kiến các công đoạn làm bánh phồng, mà còn được trực tiếp tham gia, thưởng thức sản phẩm ngay tại chỗ, cảm nhận trọn vẹn hương vị quê hương xứ Dừa.
Đây được xem là hướng đi phù hợp, vừa quảng bá sản phẩm, vừa tạo thêm sinh kế cho người dân, đồng thời gìn giữ và lan tỏa giá trị làng nghề truyền thống vùng sông nước Cửu Long.