Giữ màu xanh vườn trầu

Bên dòng sông Tiền êm ả chảy qua vùng đất cù lao An Giang, một số nông dân cao tuổi vẫn lẳng lặng bám đất giữ vườn trầu. Với họ, đây vừa là kế mưu sinh, vừa để giữ lại nghĩa tình thắm đượm mà tiền nhân để lại.

Lá trầu giúp nông dân có thu nhập ổn định.
Lá trầu giúp nông dân có thu nhập ổn định.

Dải đất cù lao Tân Châu, Phú Tân thuộc tỉnh An Giang (cũ) từng nổi tiếng khắp vùng sông nước miền Tây với thương hiệu lụa Lãnh Mỹ A và những bãi trầu Long Sơn xanh ngắt. Thời cực thịnh, dọc theo Tỉnh lộ 954, làng nghề này phủ một màu xanh tươi mát trải dài hơn 3 km. Trải qua nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, xóm trầu năm xưa đã sáp nhập thành xã Phú Lâm, tỉnh An Giang.

Là thế hệ thứ ba nối nghiệp, ông Vương Văn Biên (62 tuổi, ngụ ấp Long Hòa 1) cho biết, tính đến nay, loại cây dây leo này đã bén rễ ở địa phương ngót nghét 100 năm. Thuở ấy, các bậc tiền bối mua giống trầu Bà Điểm (Hóc Môn) về canh tác, rồi tận dụng nguồn phân tơ tằm dồi dào từ xứ lụa Tân Châu để bón thúc. Nhờ vậy, lá trầu nơi đây có độ bóng mượt và sắc xanh vượt trội hơn các vùng khác. Lục lại ký ức, ông Biên như trở về thời để chỏm, quanh quẩn bên ông bà phụ thu hoạch. Theo ông, loại cây này rất “kén” đất, phải trồng nơi gò cao không ngập úng nhưng lại rất ưa nước. Chính lợi thế nằm cạnh sông Tiền đã giúp nhà vườn chủ động nguồn nước tưới tiêu từ buổi đầu lập nghiệp.

Thuở trước, lá trầu hiện diện trong mọi ngóc ngách của đời sống tâm linh và sinh hoạt: từ mâm cúng gia tiên, mâm lễ ngày Tết, cho đến cau trầu trong ngày đại hỷ. Việc trao nhau lá trầu từng là lời tỏ tình thầm kín của lứa đôi và tục ăn trầu cũng là thói quen khó bỏ của các bà, các cô.

Thế nhưng, theo thời gian, khi làng lụa Lãnh Mỹ A dần mai một thì vùng trầu xanh cũng chung số phận. Từ những bãi trầu bạt ngàn, diện tích canh tác nay thu hẹp còn vỏn vẹn gần 40 ha. Nhiều hộ dân đã dỡ giàn, bạt đất để xây nhà hoặc chuyển sang các loại cây trồng khác. Lớp trẻ cũng không còn mặn mà với trồng trầu. Giờ đây, chỉ còn những người cao tuổi bám trụ lại vì cái nghĩa với giống cây truyền đời. Ông Biên trải lòng, nghiệp trồng trầu cũng như chính đời người, luôn có những khúc quanh thăng trầm theo vòng xoáy giá cả.

Mùa “hái ra tiền” của nhà vườn thường bắt đầu từ tháng Chạp đến hết tháng Hai năm sau. Đây là thời điểm nhu cầu thị trường tăng cao để phục vụ mùa cưới và thờ cúng dịp Tết Nguyên đán. Cận Tết, loại lá tuyển chọn có giá lên tới 10-12 triệu đồng/muôn (một muôn tương đương 1.000 lá). Đến dịp lễ hội vía Bà Chúa Xứ núi Sam, người dân khắp nơi đổ về mua trầu têm cánh phượng để đảnh lễ, đẩy giá dao động từ 4-6 triệu đồng/muôn. Những tháng còn lại trong năm, mức giá giảm, duy trì từ 1,5-2,5 triệu đồng/muôn.

Theo kinh nghiệm của ông Biên, trầu xuống giống hơn bốn tháng là bắt đầu cho thu hoạch đợt đầu. Sau mỗi đợt hái, khoảng 20 ngày lá lại mọc đều và nhà vườn tiếp tục thu hoạch; chu kỳ này lặp lại liên tục. Nhờ vậy, người nông dân có thu nhập ổn định. Trung bình một công đất, mỗi đợt thu hoạch trầu cho khoảng ba muôn lá. Người trồng chủ yếu bón phân chuồng hữu cơ, cho nên tiết kiệm tối đa chi phí vật tư nông nghiệp. Lá mang vị cay nồng tự nhiên cho nên sâu rầy ít tấn công. Dù vậy, chúng lại rất nhạy cảm với gió bấc. Cứ vào tầm tháng 10, tháng 11 âm lịch, khi gió lạnh tràn về, nếu không phun thuốc phòng ngừa kịp thời, cả vườn trầu có thể đổ bệnh và chết dây hàng loạt.

Ông Biên - vốn là giáo viên, vừa nghỉ hưu chia sẻ: “Suốt những năm đứng lớp, tôi chọn thâm canh thêm loại cây này vì công việc tương đối nhàn nhã so với làm lúa hay làm rẫy. Chỉ cần lo nước tưới, dặm phân chuồng, trầu lại chịu nhiệt tốt, cho nên thời tiết mưa dầm hay nắng gắt cũng không đáng ngại”. Ông khoe, chính nhờ mảnh vườn hơn 1.000 m² với 600 trụ trầu mà ông có của ăn của để, nuôi hai con học đại học thành tài và cất được ngôi nhà khang trang.

Vào những ngày thu hoạch rộ, cả xóm nhỏ lại rộn rã tiếng cười nói của nhân công. Người hái lá, người xếp liễn, người ốp trầu... Mỗi công đoạn mang lại cho lao động địa phương thu nhập vài trăm nghìn đồng/ngày, giúp họ trang trải cuộc sống. Dẫu nét văn hóa ăn trầu đã dần mai một, song thị trường tâm linh, thờ cúng và các nghi lễ truyền thống vẫn xem đây là vật phẩm không thể thiếu. Vì thế, làng nghề Long Sơn vẫn tìm được chỗ đứng. Đáng chú ý, vài năm trở lại đây, phong trào nuôi cá bè ở địa phương nở rộ, mỗi khi thời tiết giao mùa, các chủ bè lại mua lá trầu thả xuống nước để trị bệnh cho thủy sản. “Lối thoát” không ngờ này đã giúp đầu ra lá trầu được điều tiết một cách tự nhiên.

Cũng sở hữu khoảng 600 gốc trầu, bà Lê Kim Tuyến (ngụ cùng ấp Long Hòa 1) cho biết, hiện nay phụ nữ Khmer vẫn còn tục nhai trầu, cho nên đầu ra cho sản phẩm vẫn ổn định. Trước đây, thương lái chủ yếu thu gom để xuất sang thị trường Campuchia; hiện số lượng đã giảm nhưng vẫn duy trì. Bà Tuyến chia sẻ, bản thân cũng là đời thứ ba nối nghiệp cha ông. Bấy nhiêu năm thăng trầm, vui buồn cùng màu xanh của lá đã gắn cuộc đời bà vào những dây trầu.

Làng trầu vang bóng một thời giờ đây dù không còn nhộn nhịp, nhưng những người bám trụ với nghề vẫn tràn đầy niềm tự hào mỗi khi nhắc về làng nghề một thời của vùng cù lao. Suốt hàng chục năm, những dải lá xanh mướt đã nuôi sống bao gia đình, chắp cánh ước mơ đến trường cho thế hệ con cháu. Họ vui vì nhận ra rằng, dẫu cuộc sống đổi thay, thứ lá cay nồng vẫn giữ vị trí trang trọng trong các dịp lễ Tết, giỗ chạp, cưới hỏi như một nét đẹp văn hóa tâm linh bền bỉ của cộng đồng.

Có thể bạn quan tâm