Suối nguồn Tây Nguyên

Suối nguồn Tây Nguyên

80-nam-cong-an-nhan-dan-viet-nam-1.jpg

Trong thế giới quan của các tộc người Tây Nguyên, nước là khởi nguồn của sự sống; nước gắn liền với đất, rừng, buôn làng; hiện diện trong đời sống vật chất và tinh thần. Trong những mạch nguồn ấy đều có thần linh trú ngụ và ban cho dân làng dòng nước trong lành. Giữa miền đất bazan đầy nắng gió, dòng nước từ sông, suối hay mạch nước ứa ra từ khe đá, tụ lại nơi bến nước đầu nguồn không chỉ làm dịu mát cơn khát, mà chất chứa pho tri thức bản địa phong phú.

Lâu rồi mới trở lại vùng đất bên dòng Krông Nô chất chứa bao huyền thoại. Huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng trước đây, nay được lập thành bốn xã đều mang tên Đam Rông. Nắng sớm đuổi dài theo bóng cây nêu trên sân nhà truyền thống xã Đam Rông 4, tiếng chiêng mẹ, chiêng cha… thao thiết, vang xa lên tận đỉnh Lơm Bur. Hôm nay, đồng bào M’Nông tổ chức lễ cúng bến nước đầu nguồn, nơi con suối Đạ Đòr ngàn đời nay đưa dòng nước mát lành về với buôn làng. “Với người M’Nông và nhiều dân tộc bản địa khác ở Tây Nguyên, sông, suối, nước; núi, rừng… đều có thần (Yàng) ngự trị. Nếu núi rừng là không gian thiêng, là nguồn cội, thì nước là dòng sữa nuôi dưỡng vạn vật. Không có nước thì không có buôn làng, không có cái nương, cái rẫy. Vì vậy, bảo vệ nguồn nước cũng chính là bảo vệ sự sống của cộng đồng”, già làng Cil Nếu chia sẻ.

Suối Đạ Đòr ban mai tinh khiết. Dân làng đã tề tựu tại không gian bến nước thiêng, các lễ vật cúng Yàng đã đầy đủ, thầy cúng và già làng bắt đầu thực hiện nghi lễ. “Ơi các Yàng thần linh của nước, của đất, của núi rừng, hôm nay dân làng mang rượu, thịt đến dâng ngài. Xin Yàng hãy giữ cho dòng nước luôn đầy, cho mạch nước chảy mãi, cho nguồn nước mát lành để phụ nữ gùi nước về đầy quả bầu, để đàn ông tắm khỏe đôi chân, cho lúa uống nước mà trổ bông vàng...”, lời thầy cúng vang vọng núi rừng. Sau đó, già làng dâng lời khấn tạ ơn các Yàng, cầu mong dân làng khỏe mạnh, no đủ, buôn làng yên vui. Khi các nghi thức thiêng liêng kết nối con người và thần linh kết thúc, những giọt nước đầu tiên được phụ nữ hứng vào quả bầu khô đưa về đổ vào các ché rượu của buôn làng. Nhịp chiêng, điệu vũ bắt đầu rộn ràng, vòng xoang mùa hội thêm dài, thêm rộng. “Cúng bến nước là dịp để người M’Nông tạ ơn Yàng đã cho con nước, cho rừng xanh, cho lúa trổ bông vàng. Đây là dịp để buôn làng cùng vui, thắt chặt tình đoàn kết”, già làng Cil Nếu trò chuyện.

Trong xã hội Tây Nguyên cổ truyền, làng là đơn vị xã hội cơ bản và duy nhất. Trong ngôn ngữ của cư dân bản địa nơi đây không có từ để chỉ đơn vị cao hơn làng. Người M’Nông, Cơ Ho gọi “bon”, người Ê Đê gọi “buôn”, còn người Chu Ru, Gia Rai, Ba Na gọi “plei”… đều có nghĩa là làng và chuyện tìm đất lập làng mới cũng hàm chứa nhiều điều thú vị. Già làng, nhà nghiên cứu văn hóa Tây Nguyên Krajan Plin kể, trong sử thi và những chuyện kể khan ở vùng đất bazan này có nhắc đến chuyện tìm đất lập bon và tiêu chí quan trọng nhất là “nguồn nước”. Bởi nơi nào có nước sạch, có suối chảy quanh năm, nơi đó mới có thể dựng làng, lập bon và bảo đảm sự sống. “Ngày xưa, khi bon làng đông lên hoặc đất cũ đã bạc màu, không còn phù hợp, già làng và những người có kinh nghiệm lại đi tìm vùng đất mới. Chỗ nào không có suối, không có mạch nước sạch đầu nguồn thì dù đất tốt cũng bỏ qua, có nước mới lập làng được”, già Plin cho biết.

Trong xã hội Tây Nguyên cổ truyền, làng là đơn vị xã hội cơ bản và duy nhất. Trong ngôn ngữ của cư dân bản địa nơi đây không có từ để chỉ đơn vị cao hơn làng. Người M’Nông, Cơ Ho gọi “bon”, người Ê Đê gọi “buôn”, còn người Chu Ru, Gia Rai, Ba Na gọi “plei”… đều có nghĩa là làng và chuyện tìm đất lập làng mới cũng hàm chứa nhiều điều thú vị.

Trong quá trình tìm đất lập làng mới, những người minh triết của làng không chỉ quan sát địa hình, thổ nhưỡng mà phải biết “dấu hiệu của rừng”, nghe được “tiếng của nước”. Nước phải trong và lành, không cạn kiệt vào mùa khô. Cách lựa chọn không gian cư trú này thể hiện tư duy sinh thái rất sớm của đồng bào Tây Nguyên. Cùng với yếu tố tâm linh, núi, rừng, sông, suối đều có thần linh ngự trị, cai quản, họ đặt yếu tố bền vững, hài hòa với tự nhiên lên hàng đầu. Có lẽ, cũng từ cách lập làng mới đó, nên ngày nay, rất nhiều địa danh, buôn làng ở Tây Nguyên đều gắn với từ “nước” (Đạ, Dà; Đắk, Dar; Ia, Ya; Ea… theo từng ngữ hệ). Ví như những địa danh nổi tiếng Đà Lạt (Dà Làc, Đạ Lạch…), Đắk Lắk (Dar Lak), rồi Ia Pa, Ia Grai, Ea H’leo…

anh-nen.jpg

Tây Nguyên là vùng đất của những huyền thoại, truyền thuyết, sử thi. Ở đây, mỗi ngọn núi, con suối, dòng sông, mỗi cánh rừng đều lung linh những huyền thoại. Ở đó đều có sự hiện diện của những vị thần, như Yàng Ụ (thần đất), Yàng Brê (thần rừng), Yàng Bơnơm (thần núi), Yàng Dà (thần nước)… theo ngữ hệ Nam Á của phần lớn đồng bào phía nam Tây Nguyên. Rồi những vị vua quyền năng: vua lửa (pơtao apui), vua gió (pơtao angin), vua nước (pơtao ia). Trong đó, pơtao ia có thể dùng thần quyền để “gọi” nguồn nước về cho buôn làng mùa khô khát.

Nước là khởi nguồn của sự sống. Với đồng bào Tây Nguyên, nước là ân huệ của đại ngàn, của thần linh. Bởi thế, nên dù ngày nay hệ thống nước sạch đã về đến từng buôn làng, nhưng khi mùa màng thu hoạch xong, lúa đã vào trong cót, tiếng sấm hết rền vang, hoa pơ lang rực đỏ là lúc người Mạ, Cơ Ho, Ê Đê, M’Nông tổ chức lễ cúng bến nước; người Gia Rai làm lễ cúng giọt nước đầu nguồn, người Chu Ru cúng thần đập nước Bơmung… như để tri ân Yàng Dà, Yàng Đắk và nhắc nhớ mỗi người con của núi rừng về cội nguồn, trách nhiệm giữ gìn mạch sống cho buôn làng và các thế hệ mai sau.

Bến nước ở Tây Nguyên là biểu tượng, để người già cái chân không còn khỏe, chàng trai đi ở rể làng xa lại tha thiết nhớ; để người con buôn làng đi xa đến tận thị thành vẫn khát khao được “quỳ xuống, ghé môi và say sưa uống nước nguồn…”, như trong tuyệt tác “Daghextan của tôi” của nhà thơ người dân tộc thiểu số Avar-Raxun Gamzatov. “Nếu miền bắc là cây đa, giếng nước, sân đình thì Tây Nguyên có bến nước đầu nguồn. Đây là không gian cộng đồng sinh động của mỗi buôn làng, nơi diễn ra các hoạt động sinh hoạt hằng ngày, nơi những câu chuyện được kể, nơi hò hẹn và cũng là nơi phô diễn nét văn hóa đặc trưng”, nhà nghiên cứu văn hóa Tây Nguyên Đặng Trọng Hộ diễn giải.

Tây Nguyên, nơi khởi nguồn của những con nước lớn, đó là dòng Đồng Nai, nơi chứng kiến những cuộc gặp gỡ giữa văn hóa các tộc người Chu Ru, Mạ, Cơ Ho và miền trầm tích Cát Tiên; là dòng Sêrêpốk thủy chung, được hợp lưu từ dòng sông cha Krông Nô và sông mẹ Krông Ana, nơi có thác chồng Dray Sáp và thác vợ Dray Nur chảy xuống đẹp như tranh vẽ. Là dải lụa Đắk Bla chảy ngược về phía tây qua những làng, những phố và núi non điệp trùng; tại nơi hợp lưu của dòng Đắk Bla và Pô Kô khai sinh “dòng sông ánh sáng” Sê San với bảy công trình thủy điện nổi tiếng. Hay dòng sông Ba từ đỉnh Ngọc Linh qua non ngàn bắc Tây Nguyên xuôi về miền hạ mang tên Đà Rằng, rồi hòa vào Biển Đông. Dòng sông lau sậy - Ea Drăng theo tiếng Chăm cổ này, gắn với cổ tích “suối tóc nàng Ly” đã hóa thành dòng thác Ia Ly hùng vĩ.

Nước ở Tây Nguyên là mạch nguồn sự sống, là nguồn cội, là linh thiêng. Suối nguồn ấy đã sinh ra những buôn làng, những nương lúa óng vàng mẩy hạt, những rẫy cà-phê sắc đỏ trĩu cành, những đồi chè xanh như mắt sơn nữ và cả ché rượu cần “lâu năm cất trong đáy mắt em”…

Trên miền đất đại ngàn này, những con suối, thác nước, dòng sông; những tên đất, tên làng và tên những dòng họ… đều có gốc gác gắn với những huyền tích và câu chuyện kể. Những con nước ở Tây Nguyên đã hòa thành “Đôi mắt Pleiku Biển Hồ đầy”, là Lắk, Tuyền Lâm, Ayun Hạ và “thắp” nên những dòng ánh sáng thủy điện mở ra thế giới văn minh, hiện đại.

Xuân mới đã về. Pơ lang thắm đỏ, Tây Nguyên vào mùa hội. Tiếng trống, nhịp chiêng, điệu kèn ngân dài như trường ca Đam San. Song, có lẽ trong thẳm sâu ký ức những người con của núi rừng, tiếng giọt nước rơi từ đầu khúc nứa, tiếng nước róc rách ở bến nước đầu nguồn vẫn mãi là thanh âm yên bình và thao thiết nhất.

b621ec4db2643c3a6575.jpg
Tái hiện hình ảnh đi lấy những giọt nước đầu nguồn.
anh-nen.jpg

Có thể bạn quan tâm