Những cái "Tết lạ" của đồng bào Tây Nguyên

Trong ngôn ngữ các tộc người thiểu số Tây Nguyên không có từ “Tết”, mà tất cả các nghi lễ, lễ hội của đồng bào đều có chữ mở đầu mang nghĩa là “uống”. Từ “uống” trong tiếng Cơ Ho, tiếng Mạ gọi là “nhô” hay người Chu Ru gọi là “năng”, người Gia Rai gọi là “m’num”, người Ba Na gọi là “et” và người Ê Đê thì gọi là “m’năm” cũng vậy.

Nghi thức cúng Yàng trong lễ hội Hamamơkhi của người Chu Ru.
Nghi thức cúng Yàng trong lễ hội Hamamơkhi của người Chu Ru.

Có lẽ, do rượu cần và tục uống rượu cần xuất hiện trong tất cả các sinh hoạt quan trọng của mỗi gia đình, dòng họ đến cả cộng đồng đã biến từ “uống” trở thành một tiền tố thú vị thay cho cho từ “Tết” mà người Việt thường gọi… Sống ở xứ rừng này, tôi may mắn được nhiều lần hòa mình trong không khí rộn ràng của nhiều dịp “uống”.

1. Chu Ru là một tộc người khá đặc biệt về nguồn gốc lịch sử. Trong cảm thức chưa mấy rõ ràng của hơn 20 nghìn đồng bào của tộc người này, tổ tiên của họ ngày xưa từng an cư đâu đó dưới miệt đồng bằng… Tên gọi tộc người “Chu Ru” hay “Ch’rúk” là cách mà các chủ nhân lâu đời hơn của cao nguyên gọi họ với nghĩa là “người xâm đất”; bởi so với Cơ Ho, Mạ, Mơ Nông và các tộc người khác cư trú lâu đời ở cao nguyên thì Chu Ru là tộc người đến sau.

Vào quãng này của ba năm trước, tôi đã được vui cùng một cái Tết rất lạ của đồng bào Chu Ru bên dòng Đạ Nhim, đó là lễ hội Hamamơkhi đón mừng năm mới, tưởng nhớ tổ tiên và đoàn tụ họ hàng. Là khách nhưng khi hòa tâm của mình vào không gian thiêng tộc người, tôi thật sự thấm lời khấn của già làng Ya Thin hướng về các vị Yàng, hướng về tổ tiên xưa với những thông điệp nương cầu cho mùa màng tốt tươi, cho cuộc sống hạnh phúc. Cây nêu, bếp lửa, rượu cần và những món ăn truyền thống đã được chuẩn bị. Ngày Hamamơkhi giữa plei Diom trang nghiêm và rộn ràng bởi tiếng trống ginăng trong nhịp tay của bà Ma Cong, tiếng chiêng ba atâu dìu dặt của bà Ma Bio, tiếng kèn k’wào của ông Ya Has và tiếng sáo t’rơlér réo rắt của cậu trai Ya Hươn. Tôi và mọi người không thể cưỡng nổi cảm xúc và hòa mình một cách tự nhiên theo vòng quay phiêu diêu của vũ điệu Tămya-Ariya cùng những chàng trai, cô gái da nâu, mắt sáng bên bếp lửa bập bùng dưới bóng cây nêu mang biểu tượng của ba tầng vũ trụ gồm cõi người, cõi vạn vật và cõi thần linh. Mới qua lễ Hamamơkhi, anh em Chu Ru lại hẹn tôi dịp tới về ăn Tết Mơnhum Hơma để cùng chia sẻ niềm vui đón lúa mới về nhà...

Ở các tộc người Tây Nguyên, chuyện lễ hội, tức là các dịp Tết của họ, nếu không gắn với rừng, với nghi lễ vòng đời thì cũng gắn với cây lúa mà họ kính trọng gọi là “lúa Mẹ”. Thông qua việc tổ chức các nghi lễ liên quan đến cây lúa, ông cha truyền lại cho cháu con đạo lý, kinh nghiệm và phép ứng xử. Đó cũng là dịp tốt nhất để đồng bào trình diễn các loại hình văn hóa như dân ca, dân vũ, biểu diễn nhạc cụ, bài trí cây nêu, sửa sang nhà rông, nhà dài, thưởng thức ẩm thực truyền thống… trong không gian sinh tồn của họ. Từ thuở xa xưa, người Cơ Ho có hẳn một quy trình nghi lễ theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây lúa: Lễ cầu mưa trước khi xuống giống (Nhô dơng); lễ mừng gieo sạ (Nhô sih srê); lễ mừng rửa chân trâu (Nhô rào jơng rơpu); khi lúa trổ đòng lại cúng lễ Nhô wèr cầu cho lúa dày bông; đến ngày lúa lên bông thì lại có lễ Nhô lir bờkao. Lễ Nhô lềrbong uống mừng mùa vụ kết thúc là quan trọng nhất vì đó cũng là lúc người Cơ Ho đón mừng năm mới, đây là cái Tết lớn nhất của tộc người này.

Cộng đồng người Mạ cũng ăn Tết theo chu trình sinh trưởng của cây lúa. Từ tìm đất, phát rừng, đốt rẫy, khai vỡ, gieo hạt, làm cỏ, chăm sóc, đón lúa về nhà đều diễn ra những nghi lễ tương ứng: Nhô năngbri, Nhô sadingbar, Nhô tăm snum, Nhô kèp, Nhô dồng… Đặc biệt, Nhô rhe - mừng lúa về kho là lễ hội lớn nhất trong năm với hàng loạt các lễ thức và thực hành văn hóa dân gian. Tôi vẫn nhớ lời bà Ka Dít ở xã Bảo Lâm 5 mời tháng tới về vui lễ Nhô rhe với buôn làng của bà. Ngày đó sẽ có cây nêu, rượu cần, sẽ có lời khấn Yàng linh thiêng và nhịp chiêng droòng sẽ rền vang bên bếp lửa sân nhà.

2. Sống ở Tây Nguyên, tôi đã đi qua biết bao buôn làng trong mùa lúa chín và được nghe văng vẳng lời khấn của các vị già làng: “Ơi Yàng! Tôi mời Yàng về ăn uống mừng lúa mới!... Yàng về ăn, về uống, giúp cho nhà tôi, buôn tôi ăn mãi lúa vẫn còn, hốt ra khỏi kho vẫn không hết được…!”. Đó là những thông điệp giản dị chuyển lên Yàng Kòi (thần Lúa) và các vị thần trong mỗi dịp “nhô”. Và với tôi, cứ nhắc đến mỗi cái tên “nhô” là lại nhớ dáng vẻ của những buôn làng từng đến, nhớ những đôi chân trần quấn quyện bên bếp lửa, nhớ nồng nàn ánh mắt sơn nữ nâng cần rượu mời và những món ăn mang hương vị của rừng, của núi.

Tây Nguyên bây giờ như một tấm thổ cẩm đa sắc mà văn hóa của mỗi tộc người là những nét hoa văn riêng góp thêm, tôn thêm vẻ đẹp gấm hoa của xứ sở trên cao. Sắc màu của tấm thổ cẩm ấy càng rực rỡ hơn khi mỗi độ xuân về. Ở nơi này, mỗi cái Tết Nguyên đán của người Kinh đều có đồng bào các dân tộc anh em chung vui. Lễ hội của đồng bào thiểu số, anh em người Kinh cũng sẻ chia, hòa cảm.

Hôm rồi về Di Linh, già làng K’Diệp bấm đốt ngón tay rồi nói với khách mà như tự sự: “Lúa ở cánh đồng Ka La mình đang vào kỳ chín rộ. Vậy là Nhô Lerbong của đồng bào Cơ Ho trùng với tết Nguyên đán của bà con người Kinh. Hai cái Tết vào một dịp, thật vui!”. Tôi sẽ về với Nhô Lềrbong, với già K’Diệp và nương rẫy, núi đồi, buôn làng để được nâng cần rượu trong câu mời “Sền tờr nờm ơi ơi ơi…” hấp dẫn, nhẩm hát những làn điệu Yalyău, Tầmpớt, Lảhlông và hòa vào vòng xoang cùng các cô gái Cơ Ho trên miền cao nguyên Djiring tươi đẹp này.