Lịch sử đã trui rèn nên sức sống bền bỉ của dân tộc
Phóng viên: Xin ông chia sẻ đúc kết cơ bản về những nét nổi trội của văn hóa và lịch sử Việt Nam?
GS, TSKH, NGND Vũ Minh Giang: Việt Nam có một lịch sử rất đặc biệt. Trong khu vực Đông Nam Á, đây là quốc gia hình thành nhà nước sớm nhất. Nhưng ngay từ buổi đầu dựng nước, cha ông ta đã phải đối mặt với rất nhiều thử thách. Nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa, địa hình dốc từ tây sang đông, thường xuyên mưa bão, lũ lụt nghiêm trọng. Vị trí địa chính trị đặc biệt khiến đất nước liên tục phải đối mặt với hiểm họa xâm lăng. Nhưng cũng chính những thử thách trong suốt hàng nghìn năm lịch sử ấy đã trui rèn chúng ta thành một dân tộc kiên cường, bất khuất, thông minh sáng tạo, mềm dẻo, linh hoạt đủ sức chống chọi, bền bỉ vượt qua và vươn lên trong mọi nghịch cảnh. Đó cũng chính là những nét nổi trội của văn hóa và con người Việt Nam.
- Là chuyên gia về lịch sử, văn hóa, ông có thể cho biết, sức sống dân tộc được biểu hiện như thế nào trong suốt hành trình dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm qua?
Người Việt ai cũng biết hai thiên huyền thoại nổi tiếng về thời đại dựng nước. “Sơn Tinh Thủy Tinh” là cuộc đấu tranh bền bỉ với thiên tai, phản chiếu khát vọng trị thủy, thích ứng với tự nhiên để tồn tại. Còn câu chuyện “Thánh Gióng” ngụ ý từ thuở sơ khai tổ tiên chúng ta đã phải vượt lên chính mình vì lẽ tồn vong trước họa ngoại xâm.
Nhìn lại toàn bộ lịch sử từ khi dựng nước cho đến nay, bên cạnh những trang rực rỡ hào hùng, cũng có những khúc quanh thấm đẫm máu và nước mắt, đầy tổn thất bi thương. Thậm chí có lúc số phận nghiệt ngã, thử thách cam go, đặt đất nước Việt Nam trước nguy cơ biến mất khỏi bản đồ thế giới. Hơn một nghìn năm Bắc thuộc là một trong những thời kỳ như thế. Những cuộc khởi nghĩa liên tục nổ ra với ý chí quật cường để giành lại độc lập. Trong thời kỳ đó, chúng ta dù có lúc bị mất nước, nhưng không mất làng. Chúng ta đã tạo dựng một nền văn minh Đại Việt rực rỡ, làm nên một quốc gia văn hiến được các lân bang nể trọng. Suốt mấy nghìn năm, lịch sử của Việt Nam là một hành trình bền bỉ vượt qua thử thách và vươn lên mạnh mẽ.
Văn hóa là nền tảng, đoàn kết là sức mạnh
- Thưa ông, vậy điều gì là cốt lõi làm nên sức bền của tinh thần đó trong suốt chiều dài lịch sử cho đến hiện đại?
Gốc rễ của vấn đề nằm ở hai chữ: “đoàn kết”. Sức mạnh của người Việt không nằm ở một cá nhân, ở một làng, mà nằm ở liên làng, liên cộng đồng. Đoàn kết là giá trị trường tồn của dân tộc ta. Không phải ngẫu nhiên mà qua các thời kỳ lịch sử, các nhà lãnh đạo Việt Nam đều nhấn mạnh hai chữ “đoàn kết”.
Điều cốt lõi làm nên sức bền của một dân tộc nằm ở nhân dân. Người lãnh đạo tài giỏi là người phát huy được sức mạnh của nhân dân. Chúng ta đã có những bài học đau xót trong lịch sử, được nhắc nhớ nhiều là câu chuyện Hồ Quý Ly đau đáu xây dựng quân đội mạnh, xây một tòa thành hùng vĩ, kiên cố vào bậc nhất ở Đông Nam Á, nhưng chỉ cầm cự được 6 tháng. Bài học mà Hồ Nguyên Trừng đã nói với Hồ Quý Ly là gì? “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo thôi”… Trong mọi thời đại, chính quyền và nhân dân phải trên dưới đồng lòng, hòa thuận chung sức thì mới vượt qua mọi chông gai.
- Ông đánh giá như thế nào về khả năng sáng tạo, thích ứng của người Việt Nam trong những hoàn cảnh khắc nghiệt?
Người Việt có khả năng thích ứng và sáng tạo rất cao. Chiến dịch Điện Biên Phủ là một thí dụ điển hình. Với mặt trận địa hình thung lũng hình lòng chảo, với không quân, pháo binh, lô cốt kiên cố, hỏa lực mạnh lại ở xa hậu phương của ta nên thực dân Pháp có lý khi tin họ sẽ nắm chắc phần thắng trong tay. Nhưng điều người Pháp không bao giờ ngờ tới là sự xuất hiện của hàng vạn xe đạp thồ, thoắt ẩn thoắt hiện trong địa hình đèo dốc của núi rừng, chở trên đó tất cả những gì bộ đội cần đã giúp Việt Minh giành thắng lợi. Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ cũng vậy, rất nhiều sự linh hoạt sáng tạo của chiến tranh nhân dân mà chúng ta không thể nào kể hết. Rồi trong thời bình, từ khoán chui, khoán 10 đến những chính sách đổi mới…
Bài học cho kỷ nguyên mới
- Từ những soi chiếu lịch sử đó, theo ông, bài học phát huy sức mạnh truyền thống trong giai đoạn hiện nay là gì?
Dân tộc Việt Nam có khát vọng cháy bỏng là vươn lên sánh vai cường quốc năm châu. Đây không phải là ước vọng xa xôi mà là tầm nhìn chiến lược thực tế được vạch ra bởi lãnh tụ thiên tài Hồ Chí Minh. Chỉ vài ngày sau khi tuyên bố Độc lập, trong cuộc họp Chính phủ, Hồ Chủ tịch đã đưa “Bình dân học vụ” trở thành chương trình cấp thiết, trọng yếu; đặt nhiệm vụ “diệt giặc dốt” ngang với diệt giặc đói và giặc ngoại xâm. Ngay từ những ngày đầu khó khăn ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấu hiểu, muốn xây dựng đất nước hùng cường, trước hết phải nâng cao dân trí. Cũng như bây giờ, Đảng ta thấy rõ, với tốc độ phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin trên toàn cầu, cần triển khai sâu rộng phong trào “Bình dân học vụ số”.
Thứ hai là bài học trọng dụng nhân tài. Trong lịch sử, Tiến sĩ Thân Nhân Trung thể hiện trên bia Văn Miếu: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp”. Tinh thần đó cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo Việt Nam phát huy mạnh mẽ trong thời hiện đại. Ngày 15/11/1945, ngay khi đất nước vừa độc lập vài tháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định mở cửa lại, đổi tên Đại học Đông Dương, một trong những đại học lớn nhất của châu Á lúc bấy giờ, thành Đại học Quốc gia Việt Nam và dự khai giảng khóa đầu tiên sau độc lập. Người cũng chủ trương thu hút những nhân tài người Việt Nam từ Pháp và nhiều nước trở về đặt nền móng xây dựng những lĩnh vực quan trọng của đất nước. Trước khi bước vào cuộc kháng chiến 9 năm, mặc dù trăm công nghìn việc để đối phó thù trong giặc ngoài, Bác Hồ vẫn chỉ đạo tổ chức Hội nghị Văn hóa toàn quốc. Tại sao lại thế? Vì Người hiểu rõ văn hóa là sức mạnh nghìn năm hun đúc, là tri thức, trí tuệ của toàn dân. Đó là những bài học cho chúng ta ngày hôm nay.
- Cả đất nước, dân tộc đang sống trong thời khắc lịch sử, chuẩn bị cho công cuộc đưa non sông phát triển lên một tầm cao mới, ông có thể chia sẻ, gửi gắm một thông điệp đầu xuân?
Tôi muốn nói thêm điều này, tài liệu đầu tiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh viết để tuyên truyền cán bộ và nhân dân vào năm 1941 ngay sau khi Người về nước, là cuốn diễn ca “Lịch sử nước ta”. “Dân ta phải biết sử ta/Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Hiểu rõ lịch sử, thấy được sức mạnh truyền thống, thấm hiểu biết bao xương máu hy sinh của nhiều thế hệ đi trước vì những khát vọng tương lai, chúng ta sẽ có những bài học, có đủ căn cứ, niềm tin bước vào kỷ nguyên mới. Sức sống Việt, sức mạnh của nhân dân mà cốt lõi là sự đoàn kết cộng đồng qua suốt chiều dài dằng dặc của những biến thiên lịch sử, đến nay vẫn còn đó. Chúng ta thấy qua các sự kiện kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước trong năm 2025; lòng yêu nước và niềm tin của nhân dân có thể ẩn sâu đâu đó, chỉ cần khơi nguồn là lập tức bùng lên mạnh mẽ. Chúng ta đã chứng kiến từng đoàn xe, đoàn người từ khắp mọi nơi lên đường đi cứu trợ trong những đợt thiên tai lũ lụt. Đoàn kết để thích ứng, là sức sống, sự bền bỉ, giúp đất nước vượt qua thử thách. Tôi tin tưởng chúng ta có đủ điều kiện để bước vào một kỷ nguyên mới - hiện thực hóa khát vọng xây dựng một đất nước hùng cường, phồn vinh.
- Trân trọng cảm ơn Giáo sư!