“Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”

Từ ngôi làng nhỏ bé bên sông Đuống, tranh Đông Hồ đã chính thức được thế giới công nhận những giá trị độc đáo của mình. Dòng tranh Tết “Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong”, sau nhiều năm âm thầm vượt qua những khó khăn của cuộc sống, của thị trường, đã trở lại rực rỡ.

dongho-titphu1.png

Theo tư liệu của Cục Di sản văn hóa, Đông Hồ là một làng Việt cổ nằm ở bờ nam sông Đuống nay thuộc khu phố Đông Khê, phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Làng xưa trù phú nhờ “Nhất cận thị, nhị cận giang”, với hệ thống sông này giao thông đường thủy chính là con đường giao lưu huyết mạch với nhiều vùng miền trong cả nước, thuyền bè ở các nơi theo sông Đuống về đây bán hàng hóa tiêu dùng cho người dân và mua tranh mang đi bán khắp nơi trong nước tạo nền tảng cho sự phát triển mọi mặt của Đông Hồ.

Làng Đông Hồ cũng là làng “đa canh đa nghề” với các nghề thủ công truyền thống như: nghề nhuộm giấy màu, làm vàng mã đồ thờ cúng bằng giấy, đặc biệt tiêu biểu nhất là nghề làm tranh dân gian Đông Hồ. Làng xưa còn có tên nôm là làng Mái, đến nay vẫn lưu truyền câu ca dao ca ngợi nghề làm tranh của làng:

“Hỡi cô thắt lưng bao xanh

Có về làng Mái với anh thì về

Làng Mái có lịch có lề

Có ao tắm mát có nghề làm tranh”.

Nguồn gốc nghề làm tranh có từ bao giờ, tổ nghề là ai…, cho đến nay vẫn là những câu hỏi đang được nghiên cứu. Theo một số nhà nghiên cứu mỹ thuật, tranh Đông Hồ xuất hiện vào thế kỷ XV do Lương Như Hộc truyền nghề. Ông là người làng Hồng Liễu, huyện Trường Tôn, phủ Hạ Hồng (nay là thôn Thanh Liễu, xã Tân Hưng, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương) đỗ Thám hoa khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo năm thứ 3 (1443) đời Lê Thái Tông. Làm quan triều Hậu Lê, hai lần đi sứ sang Trung Quốc đã học nghề chạm khắc chữ trên gỗ truyền dạy cho dân làng Liễu Tràng, Hồng Lục. Nhân dân hai làng đều lập đền thờ ông và tôn xưng ông làm tổ sư nghề khắc ván in.

dongho-quote.jpg

Có thể nói, từ thế kỷ XVI, Đông Hồ đã là địa điểm phát tích của dòng tranh dân gian này, nó tồn tại phổ biến và nổi trội trong sinh hoạt tinh thần của thời đại. Tranh Đông Hồ phản ánh đúng tâm tư nguyện vọng và những ước mơ bình dị, gần gũi với cuộc sống đời thường của người dân.

Nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy, ở khu bãi Đông Hồ có một khu đồng có tên gọi là Mả Mực, tương truyền đây là nơi dân làng đốt lá tre lấy than làm mực để in tranh. Tại khu đồng này vẫn còn lưu giữ một tấm bia đá khắc chữ Hán, dựng vào niên hiệu Cảnh Hưng nội dung văn bia ghi chép tên đồng Mả Mực. Như vậy, trước niên hiệu Cảnh Hưng, nơi đây đã là một địa điểm sản xuất nguyên liệu để làm tranh.

Căn cứ nội dung tấm bia “Đô Hồ tự bi” dựng vào năm (1680) khắc nổi hình ảnh “Chuột giã gạo”, mà theo như một số nhà nghiên cứu thì đó chính là những hình ảnh chú chuột trên tranh Đông Hồ như: “Đám cưới chuột”, “Vinh quy bái tổ”... còn tồn tại đến ngày nay. Dòng họ Nguyễn Đăng làng tranh Đông Hồ còn gia phả ghi lại lai lịch dòng họ cách đây 500 năm. Những ván khắc tranh cổ nhất của làng tranh Đông Hồ được các nghệ nhân ở đây gìn giữ đến ngày nay có niên đại trên 200 năm tuổi.

dongho-titphu2.png

Tài liệu của Cục Di sản văn hóa cho biết, tranh Đông Hồ là dòng tranh gắn bó và thể hiện sinh động xã hội nông nghiệp Việt cổ truyền, phong tục, tập quán, sinh hoạt cuộc sống lao động của người nông dân bình dị, chất phác.

Để thể hiện một bức tranh, ngoài bản nét đen chủ đạo, tranh mẫu có bao nhiêu màu thì cần bấy nhiêu bản gỗ khắc in màu tương ứng. Đặc biệt, giấy in là loại giấy dó truyền thống, có quét điệp và màu sử dụng in tranh được chế từ nguồn gốc tự nhiên, như màu vàng của hoa hòe, màu đỏ của hoa hiên, màu trắng từ bột vỏ sò, điệp và màu đen của than lá tre..., tạo ra mỹ cảm dung dị, độc đáo.

Về thể loại, dựa vào nội dung chủ đề, có thể chia tranh Đông Hồ thành 7 loại chính, gồm tranh thờ, tranh chúc tụng, tranh lịch sử, tranh truyện, tranh phương ngôn, tranh cảnh vật và tranh phản ánh sinh hoạt.

Quá trình sản xuất tranh có nhiều khâu, song có thể tạm chia thành 2 công đoạn chính gồm sáng tác mẫu/khắc ván và in/vẽ tranh. Sáng tác mẫu tranh và khắc ván là khâu lao động sáng tạo quan trọng, quyết định sự sinh tồn của một làng tranh. Nó đòi hỏi ít nhiều năng khiếu bẩm sinh và kỹ năng lao động cao ở các nghệ nhân.

Công việc sáng tác mẫu tranh tốn rất nhiều thời gian, trước tiên phải lựa chọn đề tài, ý nghĩa, nội dung sâu sắc, màu sắc hài hoà, bố cục chặt chẽ và có giá trị nghệ thuật cao.

Khi sáng tác mẫu tranh, các nghệ nhân thường sử dụng bút lông và mực Nho để vẽ lên giấy bản mỏng và phẳng để người thợ khắc, đục ván theo mẫu. Việc sáng tác mẫu tranh không phải là việc của riêng các nghệ nhân mà thường là kết quả chung của một làng tranh, của nhiều thế hệ.

Cũng chính vì thế mà trong tranh Đông Hồ, có trường hợp một mẫu nhưng có nhiều dị bản khác nhau, hoặc một mẫu tranh cũng có đến hai, ba cách phân bố màu khác nhau. Vì vậy, có nhiều mẫu tranh cổ đến nay cũng chưa xác định được chủ nhân sáng tạo.

dongho3.jpg

Ván khắc in tranh có 2 loại: ván in nét và ván in màu. Ván in nét thường được làm từ gỗ thị hoặc gỗ thừng mực. Gỗ thị có thớ đa chiều, vừa mềm, dễ khắc lại vừa dai, do đó khi khắc ván in, nghệ nhân có kỹ năng chạm khắc giỏi, sẽ tạo được các nét gọn, mảnh, nhỏ, tinh vi và ván in lại mềm. Dụng cụ khắc ván là những mũi đục hay còn gọi là bộ ve, được làm bằng thép cứng. Mỗi bộ ve có khoảng 30 đến 40 chiếc.

Vật liệu và dụng cụ dùng để in tranh gồm: giấy dó, các loại màu, ván in, co ván, bìa và thét (chổi làm bằng lá thông). Trước khi in tranh, phải chuẩn bị sẵn giấy in để thành 1 tập (khoảng từ 100 đến 200 tờ ở trước mặt). Khi in, người ta nhúng thét lá thông vào chậu màu để lấy màu, rồi quét đều trên mặt bìa. Phương pháp lấy mực để in tranh dân gian Đông Hồ theo cách xếp ván, tức là cầm "co" ván dập đi, dập lại tấm ván xuống mặt bìa đã được phết màu, để màu thấm đều trên bề mặt ván, sau đó đặt ván in lên tờ giấy định in sao cho cân đối, chính xác, ấn mạnh ván in vào tờ giấy, để có sự liên kết nhất định, rồi lật ngửa ván in có dính cả tờ giấy in tranh lên; lấy xơ mướp xoa đều lên mặt sau tờ giấy, để cho phẩm màu trên mặt ván tiếp tục thấm đều trên mặt giấy. Tiếp đó, gỡ tờ tranh ra khỏi ván in, rồi mang tranh ra phơi ở những nơi thoáng mát. Tranh khô rồi mới tiếp tục lần lượt in các màu khác. Bản nét đen bao giờ cũng được in cuối cùng.

donghoq.jpg

Trước kia, chỉ có nghệ nhân làng Hồ sáng tác mẫu mới vẽ tranh bằng tay. Các công đoạn khác trong sản xuất tranh dân gian Đông Hồ đều dùng ván in. Ngày nay, người ta còn vẽ tranh theo cách thức khác (ngoài in), đó là tô màu, vờn màu trên tranh đã được in ván nét trước (theo lối vẽ tranh Hàng Trống) và vẽ tranh trên giấy trắng hoặc giấy màu bồi. Khi vẽ tranh trên giấy đã in ván nét, nghệ nhân chỉ việc phân bố màu sắc sao cho hài hòa, hợp lý, thể hiện rõ nội dung của bức tranh, mà vẫn biểu đạt được giá trị thẩm mỹ.

Về giá trị nghệ thuật, so với các dòng tranh khác, tranh dân gian Đông Hồ có tính biểu trưng, trang trí nhưng vẫn giữ được nét mộc mạc, dễ hiểu, gần gũi với đời sống của người dân vùng châu thổ Bắc Bộ, độc đáo trong việc sử dụng đường nét tiết giản và những mảng màu dẹt đều, là màu tự nhiên của cỏ cây, hoa lá, tươi sáng trên nền giấy dó quét điệp óng ánh.

Về nội dung, tranh dân gian Đông Hồ phản ánh sâu sắc đời sống tinh thần, vật chất của con người, xã hội theo quan điểm mỹ học dân gian của người dân nơi đây. Đó là những bức tranh khắc hoạ ước mơ ngàn đời của người lao động về cuộc sống gia đình thuận hoà, ấm no, hạnh phúc, về một xã hội công bằng, tốt đẹp. Tranh dân gian Đông Hồ góp phần không nhỏ vào việc lưu giữ những vốn văn hoá truyền thống của dân tộc, làm cho đời sống tinh thần của người Việt Nam thêm phong phú.

dongho-titphu3.png

Theo tài liệu của nhà nghiên cứu Trần Thị Biển, Đại học Mỹ thuật Việt Nam, mỗi bức tranh dân gian Đông Hồ đều mang những lớp ý nghĩa cụ thể riêng biệt nhằm giáo dục, động viên, giúp con người lạc quan và yêu cuộc sống hơn.

Với ý nghĩa trên tranh thờ /tôn giáo thường là những tranh táo quân (thần bếp), tranh Thổ công/thổ địa (thần đất), tranh ông tổ nghề (thần nghề), tranh tử vi trấn trạch, tranh Thập điện diêm vương, tranh thờ Tam phủ, Tứ phủ, Ngũ hổ… Đây là những bức tranh được in nhằm phục vụ cho đời sống tôn giáo tín ngưỡng, người dân thôn dã sớm mang cho mình quan niệm có thế lực siêu nhiên luôn đồng hành cùng con người giúp đỡ hoặc quấy nhiễu.

Những tranh Phật, mẫu, thổ địa, (tam phủ, tứ phủ, tiên sư vị, táo quân, thánh mẫu thượng ngàn) là những bức tranh mang ý nghĩa và chức năng tôn giáo, không chỉ được diễn tả bằng hình tượng mà còn mang ý nghĩa về màu sắc ở mỗi bức tranh như những “vị thần bảo vệ”, “thần hộ mệnh” của mỗi gia đình.

Cách sử dụng màu sắc của tranh dân gian Đông Hồ còn chứa đựng giá trị biểu trưng mang tính triết lý của học thuyết ngũ hành: Màu trắng ứng với hành kim, màu xanh ứng với hành mộc, màu đen ứng với hành thủy, màu đỏ ứng với hành hỏa, màu vàng ứng với hành thổ.

dongho-danhghen.jpg
Tranh "Đánh ghen". (Ảnh: Artnam)

Theo quan niệm của nghệ nhân Đông Hồ, tiếp thu quan niệm triết học phương Đông: “Màu xanh tượng trưng cho sự sống, sinh sôi, là màu của mùa xuân, màu hợp với ánh mắt nhìn”; “màu đỏ tượng trưng cho lửa, nhiệt nóng, màu của mùa hạ”. Màu vàng thuộc hành thổ là màu của đất, tượng trưng cho mẹ của thiên nhiên.

Ngày nay trong nhiều ngôi chùa có ban thờ Mẫu hoặc trong kiến trúc nội thất của các đền, phủ, miếu còn sử dụng biểu tượng tranh Ngũ Hổ có từ tranh dân gian Đông Hồ với lối bố cục hình hổ có ở 4 góc, còn 1 hình hổ được đặt ngay chính giữa bức tranh. Như thế “ông hổ” trở thành vật linh thiêng để thờ phụng trong tín ngưỡng của người Việt từ xưa tới nay, không chỉ trong tranh dân gian Đông Hồ mà nó đã vượt qua giới hạn để đem đến những ý nghĩa tự thân.

Hình hổ ở chính giữa thường được mang màu vàng tượng trưng cho mẹ của muôn loài, 4 hình hổ ở 4 góc mang các màu tượng trưng cho 4 hành (nằm trong thuyết ngũ hành) theo chiều tương khắc ngược với chiều kim đồng hồ. Cũng bằng quan niệm triết học cổ phương Đông kết hợp với quan niệm về vũ trụ và thế giới quan mà các nghệ nhân nơi đây đã tìm hiểu, chắt lọc. Các nghệ nhân đã biết tạo ra phong cách nghệ thuật của riêng mình như còn lưu giữ nét đẹp truyền thống dân tộc, bằng nét, hình, màu mang giá trị thẩm mỹ riêng biệt.

Với ý nghĩa trên tranh chúc tụng, tranh sinh hoạt phổ biến còn lưu giữ đến nay là Tranh Tết/chúc tụng ,Vinh hoa, Phú quý (Em bé ôm gà ôm vịt), tranh gà, lợn, tranh tứ bình, tứ quý, nhị bình, tố nữ, ngư, tiều, canh, mục, tranh lịch sử, tranh Phù Đổng Thiên Vương, Bà Triệu, Đám rước, đánh vật, vinh quy bái tổ, lễ/rước hội… Với nhiều đề tài, nhiều hình tượng và cách biểu hiện khác nhau, nhưng đều chuyển tải ước vọng của nhân dân từ xa xưa đến nay đó là mong cho cuộc sống mỗi gia đình luôn hạnh phúc, ấm no, xã hội bình yên, phồn thịnh.

dongho.jpg
Tranh "Đám cưới chuột".

Một số tranh còn mang ý nghĩa đả kích sâu cay tác động trực tiếp đến đời sống xã hội đương thời mà cụ thể là chỉ ra thói hư tật xấu của giai cấp thống trị và nỗi áp bức bị đè nén của người nông dân. Bức “Trạng chuột vinh quy” cho thấy nghệ nhân dân gian Đông Hồ khéo léo dùng hình ảnh loài chuột bé nhỏ và sự đối lập là mèo đại diện cho hai thế thực trong xã hội thực tại. Bức “Đánh ghen” cũng mang đến nhiều ý nghĩa xoay quanh sự mâu thuẫn trong mỗi gia đình, đặc biệt là những gia đình có hiện tượng năm thê bảy thiếp.

dongho-titphu4.png

Là người luôn tâm huyết với văn hóa dân tộc, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn, Ủy viên thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội cho rằng, việc nghề làm tranh dân gian Đông Hồ được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp là sự khẳng định mạnh mẽ rằng đây không chỉ là một dòng tranh, mà là một “hệ sinh thái văn hóa” gồm tri thức dân gian, kỹ thuật tạo giấy điệp, khắc ván in, pha màu tự nhiên, cùng một tư duy thẩm mỹ dung dị mà sâu sắc của người Việt. Những bức tranh như “Đám cưới chuột”, “Đánh ghen”, “Hứng dừa”… không chỉ là tác phẩm nghệ thuật, mà còn là kho lưu trữ ký ức văn hóa, là triết lý sống của một cộng đồng, một vùng đất, một nền văn minh lúa nước.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn, cơ hội lớn nhất mà việc ghi danh mang lại chính là tạo ra một “cú hích” cho nhận thức xã hội: từ chỗ xem tranh Đông Hồ như một ký ức của Tết xưa, nay nhìn nhận như một giá trị sống, một nguồn lực văn hóa cần được tái sinh trong bối cảnh hiện đại. UNESCO ghi danh đồng nghĩa với việc Đông Hồ được đặt vào một “không gian di sản toàn cầu”, có sức lan tỏa về truyền thông, về giáo dục, về nghiên cứu, về du lịch văn hóa và đặc biệt là khả năng kết nối với thị trường sáng tạo mới.

dongho-quotebhs1.png

Cơ hội ấy có thể mở ra theo ba hướng lớn. Thứ nhất, tăng sức mạnh cho việc đào tạo truyền nghề, thu hút thế hệ trẻ quay về với nghề bằng những mô hình học nghề - khởi nghiệp sáng tạo. Thứ hai, hình thành chuỗi giá trị kinh tế di sản: từ sản phẩm tranh truyền thống đến thiết kế ứng dụng, quà tặng văn hóa, trải nghiệm du lịch làng nghề. Thứ ba, tạo điều kiện thuận lợi hơn để Nhà nước và địa phương huy động nguồn lực, vì khi UNESCO ghi danh thì di sản không còn là chuyện riêng của một làng, mà trở thành cam kết quốc gia.

Nhưng chính trong cơ hội lớn ấy cũng có thách thức không nhỏ. Thách thức đầu tiên là nguy cơ thương mại hóa hời hợt, làm “mất hồn” di sản khi sản phẩm bị chạy theo thị hiếu dễ dãi. Thứ hai là nguy cơ “di sản hóa” theo kiểu đóng khung trưng bày, nghĩa là tranh Đông Hồ được treo trong bảo tàng nhưng rời khỏi đời sống. Thứ ba là áp lực đô thị hóa, thu hẹp không gian làng nghề, thiếu người kế nghiệp - điều UNESCO đã chỉ rõ khi đưa vào danh sách cần bảo vệ khẩn cấp. “Vì vậy, cơ hội chỉ thực sự trở thành động lực nếu chúng ta vừa làm tốt bảo tồn, vừa có tư duy phát triển bền vững” - Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh.

Di sản Nghề làm tranh Đông Hồ cũng đã nhận được những cam kết từ phía địa phương sau khi được vinh danh Di sản Thế giới. Ông Mai Sơn, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Trưởng đoàn công tác của tỉnh tham dự kỳ họp của UNESCO tại Ấn Độ cho biết, ngay sau khi di sản được UNESCO ghi danh, tỉnh Bắc Ninh triển khai chương trình hành động bảo vệ khẩn cấp nghề làm tranh dân gian Đông Hồ theo đúng cam kết quốc tế.

Cùng với việc đào tạo các lớp nghệ nhân kế cận, còn có nhiều biện pháp hỗ trợ bảo tồn di sản được đưa ra như xây dựng không gian thực hành, trưng bày sáng tác gắn với du lịch văn hóa, cải thiện môi trường làng nghề, ban hành các cơ chế, chính sách khuyến khích người trẻ tham gia, nâng cao vai trò chủ thể của cộng đồng để người dân nhận ra tầm quan trọng của chính bản thân mình trong việc bảo tồn di sản, từ đó nghề làm tranh dân gian Đông Hồ sẽ được bảo vệ lâu dài và có sức sống bền vững.

Có thể bạn quan tâm