Kênh nhà Lê đoạn qua tỉnh Nghệ An có chiều dài 128 km.
Kênh nhà Lê đoạn qua tỉnh Nghệ An có chiều dài 128 km.

Sống cùng đất và nước

Đó là vào năm 1988, trong chuyến đi vào Nghệ An cùng với nhà văn Sơn Tùng và họa sĩ Lê Lam, hai bậc văn nhân nghệ sĩ từng trải đã chỉ cho tôi thấy dòng sông đào lịch sử, tuyến vận tải đường thủy đầu tiên của nước Việt, đó là Kênh nhà Lê.

1. Trên bản đồ lãnh thổ Việt Nam hình chữ S, khúc miền trung là một đoạn hẹp nhất như một thân hình thon thắt lại. Nhớ những lần đi tàu hỏa qua đèo Hải Vân, ngồi trên con tàu đang chuyển động bám vào vách núi kề bên là biển xanh thăm thẳm, tôi đã thấm thía khoảng khắc thỏa tầm mắt ở một nơi “thiên cổ hùng quan”.

Ngẫm nghĩ lại ngày xưa cha ông ta đã hành tiến bằng đường thủy trên các dòng sông, sau đó lại tiến bằng đường biển. Rồi từ đường biển chuyển vào kênh sông đào đi sâu vào đất liền. Bỗng nhớ đến Kênh nhà Lê. Thế rồi tôi đã tự tìm hiểu tư liệu và được biết rằng con đường thủy cổ xưa này bắt đầu từ kinh đô Hoa Lư đến tận biên giới của Đại Việt - Chiêm Thành hồi đó (Đèo Ngang hiện nay). Đó là một con đường thủy được kết nối các dòng sông tự nhiên bằng những con sông đào. Năm 983, Vua Lê Đại Hành đã cho đào kênh từ sông Mã qua núi Đồng Cổ đến sông Bà Hòa (Thanh Hóa). Năm 1003, ngài lại cho tiếp tục đào kênh từ cảng Đa Cái nối tới Đèo Ngang (Hà Tĩnh).

Từ thời Tiền Lê, tuyến đường thủy lịch sử này tiếp tục tồn tại và phát triển tới thời Hậu Lê. Năm 1438, triều Lê Thái Tông tiếp tục khơi đào các con kênh ở Ninh Bình và Thanh Hóa. Năm 1445, triều Lê Nhân Tông lệnh cho các quan đốc thúc quân lính nạo vét đào kênh các lộ Thanh Hóa và Nghệ An. Tuyến đường thủy nối liền miền bắc với miền trung không chỉ phục vụ cho việc quân, mà còn cả việc giao thương đi lại buôn bán các sản vật giữa các vùng, miền của đất nước nối liền sông Cái, sông Nhĩ Hà nơi kinh đô Thăng Long với các cảng sông, cảng biển miền trung. Năm 1744, triều Lê Hiển Tông tiếp tục cho khơi kênh vào Nghệ An. Đây là một hệ thống giao thông đường thủy của cả thời quân chủ tự chủ mấy trăm năm trước của nước Việt cổ xưa.

2. Trong lịch sử, giao thông đường thủy (cả đường sông và đường biển) của Việt Nam đã từng là phương tiện giao thông chính của người Việt. Ngay trong kinh đô Thăng Long, việc đi lại chủ yếu bằng thuyền trên sông Tô Lịch kết nối với các hồ lớn, hồ nhỏ trong kinh thành. Thơ văn cổ đã ghi lại những cuộc du ngoạn bằng thuyền rồng của vua chúa từ Hoàng thành tới thăm dinh thự của các đại thần ở bên những hồ nước xinh đẹp. Việc đi lại xuôi ngược từ bắc vào nam, từ nam ra bắc, từ miền xuôi lên miền núi chủ yếu bằng đường thủy (cả đường sông và đường biển), đây là đường vận tải để chuyển sản vật vùng biển như muối, nước mắm, hải sản về đồng bằng và miền thượng du. Ngược lại tre, gỗ rừng đóng bè về xuôi, các lâm sản quý như măng, nấm, mật ong... chuyển về đồng bằng và miền biển. Dân Việt sống với Đất là ruộng đồng, rừng núi và sống với Nước là Biển Đông rộng lớn cùng sông, suối, ao, hồ.

Xin quay lại với câu chuyện Kênh nhà Lê. Điều đặc biệt là các tuyến Kênh nhà Lê cắt ngang hầu hết các con sông tự nhiên ở bốn tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. Ngoài việc tạo lập thuận lợi cho việc giao thông đường thủy, nó còn có vai trò điều tiết dòng chảy tự nhiên và phát triển kinh tế nông nghiệp. Chính vì những lợi ích đó mà Kênh nhà Lê vẫn tồn tại suốt thế kỷ XIX, rồi thế kỷ XX. Cùng với sự phát triển của đường sắt và đường bộ, công nghệ cầu đường cùng phát triển. Đường giao thông trên sông nội địa dần dần ít được chú trọng như trong lịch sử cổ đại và trung đại. Tuy vậy, Kênh nhà Lê lại có một lịch sử oanh liệt riêng.

3. Năm 1964, đế quốc Mỹ ném bom phá hoại miền bắc, hòng cắt đứt đường tiếp vận cho chiến trường miền nam. Các tuyến giao thông huyết mạch đều bị dội bom. Trong bối cảnh đó, tuyến Kênh nhà Lê được khôi phục với chiều dài trên 500 km, bắt đầu từ huyện Yên Mô trước kia của Ninh Bình xuyên qua Thanh Hóa, Nghệ An đến huyện Cẩm Xuyên trước kia của Hà Tĩnh. Một số nguồn tài liệu cho biết, năm 1965, ngành giao thông vận tải chỉ đạo các địa phương có kênh chảy qua, nạo vét với quy mô lớn cho đến cuối năm 1965. Có những đoạn cạn nhất được khoét sâu 50-60 cm, khi thủy triều lên đạt mức nước 1-1,2 m, đủ cho thuyền có trọng tải trên 10 tấn đi lại. Đã có ba đại đội thanh niên xung phong với tổng số gần 1.000 đội viên nam, nữ được điều động chốt tại các khúc kênh quan trọng. Đã có bao câu chuyện cảm động và những tấm gương hy sinh anh hùng đem máu thắm của tuổi hai mươi viết nên trang sử oanh liệt của Đường mòn Hồ Chí Minh trên sông (1966-1975) trên dòng Kênh nhà Lê nghìn năm tuổi.

Nhìn lại kinh nghiệm làm Kênh nhà Lê của tổ tiên, tạo ra đường vận tải trên sông kết nối giữa các con sông tự nhiên bằng kênh đào, kết nối giữa đường sông và đường biển, ước gì có một hệ thống giao thông vận tải đường thủy dọc bắc nam qua khúc miền trung gian nan nhỏ hẹp. Một dân tộc sống với đất và với nước, với biển và với núi muốn tồn tại trong một thế giới ngày càng có nhiều biến động thời tiết cực đoan, chắc chắn phải tìm ra một giải pháp hợp lý.