Từ bao đời, tượng nhà mồ mang giá trị văn hóa tâm linh độc đáo, gắn bó với đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Tượng nhà mồ hình người với nhiều sắc thái biểu hiện cảm xúc buồn đau, thương nhớ hay tượng con thú được đặt tại nhà mồ để bầu bạn với người đã khuất…
Đây là tác phẩm điêu khắc đặc sắc, gắn liền với lễ bỏ mả (pơ thi), nghi lễ quan trọng nhất trong vòng đời. Nghi lễ thể hiện cuộc chia tay cuối cùng giữa người sống và người chết, tiễn đưa linh hồn về với thế giới bên kia. Nghệ nhân tạc tượng Y Thái Êban ở buôn Kmrơng Prông B, phường Tân An, tỉnh Đắk Lắk chia sẻ: “Tượng nhà mồ thường mang dáng vẻ hoang sơ, không theo khuôn mẫu, không cần chuẩn xác tỷ lệ kích thước mà quan trọng nhất là người tạc tượng phải gửi gắm thông điệp, ý nghĩa vào đó.
Mỗi bức tượng mang ý nghĩa riêng, như tượng ngồi hai tay chống cằm thể hiện người chồng hay vợ luôn nhớ thương người đã mất; tượng ẵm con biểu hiện người vợ, người mẹ đi tìm chồng, chờ chồng. Điểm đặc biệt nhất chính là sự biểu đạt trên khuôn mặt. Nó không chỉ phải thật mà còn phải giàu cảm xúc, chỉ cần nhìn vào là hiểu được thông điệp của bức tượng”. Nghệ nhân Ksor Hao, dân tộc Gia Rai ở làng Kép, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai cho biết: “Tượng gỗ dân gian gắn liền với nhà mồ và lễ pơ thi (bỏ mả).
Vì thế, tạc tượng là việc nghĩa tình, và cũng không ai phán xét tượng đẹp xấu bởi tượng gắn với đời sống tâm linh của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên”. Các già làng người Ê Đê ở Đắk Lắk cho biết: Theo quan niệm xưa, để chuẩn bị cho lễ bỏ mả, người thân trong gia đình, dòng họ vào rừng tìm kiếm những loại cây có thể tạc tượng và tổ chức lễ cúng trước khi chặt.
Khi có cây, họ nhờ các nghệ nhân tạc tượng và tùy theo gia cảnh, cuộc sống của người dã khuất để tạc những bức tượng phù hợp. Khi tổ chức lễ bỏ mả, người thân mang tượng gỗ ra dựng ở bốn góc ngôi mộ và làm lễ cúng; đây là nghi lễ cuối cùng của vòng đời một con người. Sau nghi lễ này, người thân, gia quyến không còn ra thăm mộ hay thờ cúng nữa, vì họ quan niệm sau lễ bỏ mả, người chết sẽ có cuộc sống khác.
Tạc tượng nhà mồ không cần bản vẽ phác họa, không máy móc hỗ trợ. Nghệ nhân tưởng tượng trong đầu, rồi dùng rìu, đục, dao… để tỉ mỉ đẽo, gọt, biến những khúc gỗ thành tác phẩm mang đậm bản sắc văn hóa. Ngoài tượng nhà mồ, tượng gỗ dân gian còn được các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên đặt ở nhà rông hay buôn làng mỗi khi có lễ hội lớn.
Nghệ nhân Y Blôi, dân tộc Xơ Đăng ở buôn Kon H’ring, xã Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk cho biết: Trước khi tạc tượng, người Xơ Đăng không làm lễ cúng như các dân tộc khác, vì vậy tượng của người Xê Đăng không nhất thiết dựng ở nhà mồ mà còn được đặt ở nhà rông, lễ hội, buôn làng… Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Thụy Phương Hiếu cho biết: Ngày nay, tín ngưỡng của một số dân tộc có thay đổi cho nên việc tạc tượng cũng có khác.
Để duy trì và phát huy sáng tạo của các nghệ nhân, ngành văn hóa tỉnh Đắk Lắk phối hợp các ngành chức năng thường xuyên tổ chức cho nghệ nhân thi tạc tượng. Qua đó, các nghệ nhân gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm, đồng thời truyền dạy cho thế hệ trẻ để nghề không bị mai một. Nghề tạc tượng gỗ dân gian Tây Nguyên nay có hướng đi linh hoạt hơn với nhiều đề tài hơn. Tượng gỗ không chỉ đặt ở nhà mồ mà còn xuất hiện tại nhà rông, buôn làng hay khu du lịch cộng đồng, trở thành một phần sống động trong đời sống văn hóa đương đại.