Độc đáo lễ cưới truyền thống của người Giáy

Giữa nhịp sống hiện đại, tục cưới hỏi của đồng bào Giáy ở Lai Châu vẫn được gìn giữ như một giá trị văn hóa bền vững.

Cô dâu, chú rể quỳ lạy trước bàn thờ tổ tiên, thể hiện lòng thành kính.
Cô dâu, chú rể quỳ lạy trước bàn thờ tổ tiên, thể hiện lòng thành kính.

Từ những cuộc gặp gỡ trong hội hát mùa xuân - nơi trai gái nên duyên qua lời ca, đến các nghi lễ cưới xin mang đậm dấu ấn gia đình, dòng họ, phong tục ấy không chỉ kể câu chuyện về tình yêu mà còn phản ánh chiều sâu văn hóa của cả một tộc người.

Người Giáy, còn gọi là Pú Giáy hay Hún Giáy, hiện có hơn 14 nghìn người sinh sống tại Lai Châu. Cộng đồng này cư trú tập trung tại các phường Tân Phong, Đoàn Kết; các xã Bình Lư, Tân Uyên, Than Uyên, Sìn Hồ, Mường Tè…

Họ cư trú vừa tập trung, vừa sinh sống đan xen trong cộng đồng các dân tộc khác. Chúng tôi may mắn được tham dự đám cưới của gia đình ông Vùi Văn Phướng, bản San Thàng, phường Tân Phong.

Tại đây chúng tôi gặp cụ Thào Thị Nông, 85 tuổi, qua câu chuyện với cụ được biết: Trước đây, trai gái Giáy ít có điều kiện tự do tìm hiểu như hiện nay, chủ yếu gặp gỡ qua các dịp lễ hội dịp mùa xuân, sau đó thông qua gia đình và người mai mối để tiến tới hôn nhân.

Nhiều cuộc hôn phối chịu sự sắp đặt của cha mẹ, thể hiện rõ vai trò của gia đình trong đời sống xã hội truyền thống. Lễ cưới của người Giáy ở Lai Châu gồm bốn nghi lễ chính: Dạm ngõ, dạm hỏi, ăn hỏi và lễ cưới. Mở đầu lễ dạm ngõ, khi nhà trai nhờ bà mối sang đặt vấn đề với nhà gái, nếu được chấp thuận, hai bên tiến hành dạm hỏi để thống nhất các điều kiện, trong đó có sính lễ.

Trước đây, do thách cưới cao, không ít đôi lứa gặp trở ngại trong việc nên duyên. Khi đã thống nhất, nhà trai chọn ngày lành mang lễ sang ăn hỏi và xin cưới, với các lễ vật như gà, vịt, rượu và lợn. Trong lễ cưới, nhiều nghi thức truyền thống đặc sắc vẫn được duy trì.

Đoàn rước dâu có hẳn một ban nhạc pí kẻo (đội nhạc thổi bằng kèn đồng) dẫn đường, đi đầu là bà mối, tiếp đến là chú rể và họ hàng, cha mẹ chú rể không tham gia đoàn rước. Khi đến nhà gái, đoàn thực hiện nghi thức “mở cổng” với các thử thách mang ý nghĩa biểu tượng, thể hiện sự tôn trọng và thành ý của nhà trai. Mở đầu nghi thức “mở cổng” là màn hát đối đáp giữa hai họ.

Đại diện nhà trai cất lời xin mở cổng, nhà gái hát đáp, qua lại nhiều lượt cho đến khi chấp thuận, tạo nên không khí vừa trang trọng, vừa đậm sắc thái sinh hoạt văn hóa dân gian. Trong lúc đó, đội nhạc pí kẻo tấu khúc nhạc hỷ, góp phần làm rộn ràng không gian lễ cưới. Khi lời hát còn vang, phía nhà gái thực hiện tục té nước vào đoàn nhà trai, với quan niệm càng ướt thì càng xua đi vận hạn.

Sau các nghi thức, đại diện nhà trai phải uống đủ tám bát rượu, rồi mới được bước qua sợi chỉ hồng để chính thức vào sân nhà gái. Tại đây, nhà trai tiếp tục gặp một thử thách khác ngay trước cửa chính: Bốn chiếc ghế được đặt chổng ngược, như lời thử lòng dành cho nhà trai. Muốn có chỗ ngồi để thưa chuyện, đại diện nhà trai phải cất lời hát xin “úp ghế”.

Chỉ khi nhà gái chấp thuận, ghế được lật lại, chú rể và đoàn rước mới chính thức bước vào nhà. Sau khi cô dâu chú rể hoàn tất việc lễ tạ thần linh, gia tiên, đánh dấu sự gắn kết thiêng liêng của đôi lứa, hai họ sẽ cùng nhau quây quần, nâng chén rượu, vừa uống, vừa hát đối đáp trong tiếng nhạc pí kẻo ngân vang không dứt, như khúc ca chúc phúc cho hạnh phúc trăm năm của hai bạn trẻ.

Đến giờ đón dâu, cô dâu không tự bước ra mà được một người con trai trong họ cõng qua cửa chính. Trong bộ trang phục truyền thống, cô dâu trùm khăn đỏ, đeo gương như một lớp “bảo hộ” tâm linh trước khi về nhà chồng.

Bên ngoài, họ nhà trai chờ sẵn, người đón và cõng cô dâu thường là em hoặc chị của chú rể. Khi vừa đón được dâu, đoàn nhà trai lập tức “chạy dâu”, trong khi nhà gái rượt đuổi phía sau-thực hiện nghi thức “giằng dâu”; người của nhà gái níu giữ, ôm lấy cô dâu trong phút chia xa bịn rịn.

Đây không chỉ là một phong tục, đó còn biểu đạt sâu sắc của tình thân và sự thiêng liêng của gia đình; đồng thời thể hiện sự luyến tiếc của gia đình, trai bản; đề cao phẩm giá của cô gái... Về đến nhà trai, nếu chưa đến giờ lành, cô dâu chưa được vào nhà chính mà tạm ở một gian riêng.

Khi giờ tốt tới, nghi lễ tiếp tục với việc thắp hương gia tiên, bỏ khăn che mặt, tháo dải ruy băng đỏ - dấu mốc chuyển từ người con gái bên ngoại thành người vợ, người con dâu trong gia đình mới. Trong lúc chờ đợi, hai họ quây quần cùng uống rượu, hát đối, tiếng kèn pí kẻo vẫn ngân vang chúc phúc cho đôi trẻ cho đến khi kết thúc lễ cưới.

Ngày nay, đời sống của người Giáy ở Lai Châu đã có nhiều đổi thay, nhưng lễ cưới truyền thống vẫn được duy trì như một mạch nguồn văn hóa từ lâu vẫn được gìn giữ, lưu truyền qua nhiều thế hệ, góp phần bảo tồn hồn cốt bản sắc dân tộc và gắn kết cộng đồng trong dòng chảy hiện đại.

Có thể bạn quan tâm