Nông nghiệp sạch ở Thái Nguyên

Sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên thời gian qua đã có những thay đổi lớn trong tư duy của nông hộ. Từ chỗ chỉ chú trọng số lượng, các hộ đã hình thành và kiên trì theo đuổi sản xuất hữu cơ, sản xuất sạch tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, củng cố uy tín, giúp tăng thu nhập bền vững.

Chị Bùi Thị Mai cùng các thành viên hợp tác xã thu hoạch chè sạch canh tác theo phương pháp hữu cơ (Ảnh HƯƠNG DỊU)
Chị Bùi Thị Mai cùng các thành viên hợp tác xã thu hoạch chè sạch canh tác theo phương pháp hữu cơ (Ảnh HƯƠNG DỊU)

Ở xã La Bằng, một trong những thủ phủ chè của Thái Nguyên, sản phẩm Trà Cánh Hạc Bạch Vân của chị Bùi Thị Mai được nhiều người biết tới.

Là người con của đất chè, chị Mai trăn trở khi thấy chất lượng chè thu mua của gia đình không đồng đều. Chị ấp ủ ý tưởng sản xuất chè sạch, không sử dụng hóa chất theo hướng sinh thái bền vững kết hợp phát triển du lịch.

Từ năm 2020, chị bắt tay vào cải tạo 5 ha chè theo phương pháp canh tác tự nhiên, không sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học. Chị áp dụng quy trình bón phân hữu cơ, sử dụng chế phẩm sinh học và làm cỏ thủ công.

Phương pháp này tuy vất vả nhưng sau ba năm kiên trì, toàn bộ diện tích chè đã cho ra sản phẩm sạch, đáp ứng nhu cầu khắt khe của thị trường.

Thương hiệu Trà Cánh Hạc Bạch Vân của chị Mai đã vươn xa, được khách hàng đón nhận.

Chị Mai còn ứng dụng nhật ký điện tử, cảm biến thời tiết-đất, hệ thống camera giám sát, QR truy xuất nguồn gốc trong sản xuất chè; phát triển mô hình “Vườn chè thông minh Bạch Vân-hướng tới blockchain nông nghiệp”.

Cùng với đó, các tour trải nghiệm giáo dục nông nghiệp cho học sinh, sinh viên, đoàn thể được hình thành cùng mục tiêu mở rộng liên kết nông dân chung quanh, hướng tới 30 ha chè không hóa chất trong năm 2026.

Với diện tích hơn 60 km², chạy dọc hơn 15 km theo chân núi Tam Đảo, xã La Bằng sở hữu điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu đặc biệt phù hợp cây chè sinh trưởng, phát triển.

Toàn xã hiện có hơn 1.135 ha chè với sản lượng chè búp tươi hằng năm đạt 14.845 tấn. Trong đó, gần 500 ha chè sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ; hai sản phẩm chè đạt chuẩn OCOP 3 sao, một sản phẩm chè đạt chứng nhận OCOP 4 sao.

Những năm qua, La Bằng triển khai Nghị quyết chuyên đề số 05-NQ/ĐU về phát triển ngành chè, nâng cao giá trị sản phẩm chè, gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2025-2030.

Mục tiêu đặt ra là duy trì ổn định diện tích chè toàn xã hơn 1.135 ha; sản lượng chè búp tươi đạt 16.086 tấn; phấn đấu 70% diện tích chè được chứng nhận sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP và được cấp mã số vùng trồng; giá trị sản phẩm/ha chè đạt 680 triệu đồng.

Xã phấn đấu có từ ba sản phẩm chè trở lên được chứng nhận đạt tiêu chuẩn OCOP 3-4 sao, một sản phẩm chè đạt chứng nhận OCOP 5 sao.

Theo Bí thư Đảng ủy xã Đặng Thanh Tùng, địa phương đang tập trung chỉ đạo phát triển vùng nguyên liệu chè tập trung gắn với du lịch; ứng dụng khoa học-công nghệ trong sản xuất, chế biến chè và kinh doanh chè; tăng cường quảng bá, xúc tiến thương mại, tiêu thụ sản phẩm chè; bảo tồn và nâng cao các giá trị văn hóa, phát triển du lịch cộng đồng nông nghiệp gắn với văn hóa chè; rà soát, đề xuất các cơ chế, chính sách, huy động các nguồn lực đầu tư phát triển ngành chè.

Đáng chú ý, thời gian qua, tỉnh Thái Nguyên đã triển khai mô hình canh tác lúa thông minh tưới ướt khô xen kẽ nhằm giảm phát thải khí mê-tan, hướng tới xây dựng tín chỉ các-bon nông nghiệp tại xã Hợp Thành.

Kết quả bước đầu cho thấy, năng suất lúa tại ruộng mô hình đạt 6,79 tấn/ha, cao hơn 0,89 tấn so với ruộng đối chứng, tương đương mức tăng khoảng 15%. Chi phí đầu vào được cắt giảm, khi lượng giống giảm 50%, phân đạm và thuốc bảo vệ thực vật giảm khoảng 40%, lượng nước tưới tiết kiệm được khoảng 40%.

Lợi nhuận đạt gần 66 triệu đồng/ha, cao hơn khoảng 24 triệu đồng so với phương thức sản xuất truyền thống. Việc tận dụng rơm rạ làm phân hữu cơ tại chỗ góp phần cải thiện đất canh tác và giảm chi phí sản xuất.

Cùng với đó, Thái Nguyên đang từng bước đẩy mạnh quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ và bước đầu thu được những kết quả nhất định. Trên địa bàn tỉnh, mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng này đang được triển khai khá phổ biến, nhất là đối với các sản phẩm rau, củ, quả và chè.

Tỉnh ban hành nhiều chính sách hỗ trợ các mô hình sản xuất nông nghiệp VietGAP, hữu cơ. Cùng với đó, tham gia các mô hình người dân được tập huấn khoa học-kỹ thuật, hỗ trợ về phân bón, chế phẩm hữu cơ, chế phẩm sinh học, thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học...

Theo thống kê, năm 2025 Thái Nguyên đã cấp chứng nhận VietGAP thêm cho 520 ha chè, 28 cơ sở, trang trại chăn nuôi. Hiện toàn tỉnh có hơn 7.900 ha lúa, cây ăn quả, chè, rau và 211 trang trại, cơ sở chăn nuôi được chứng nhận VietGAP; hơn 320 ha được chứng nhận hữu cơ.

Tỉnh bắt đầu triển khai đề án sản xuất trồng trọt giảm phát thải đến năm 2035, tầm nhìn 2050, phấn đấu góp phần hoàn thành mục tiêu giảm ít nhất 15% tổng lượng phát thải khí nhà kính so với năm cơ sở 2020 theo định hướng của đề án quốc gia.

Cùng với đó, địa phương sẽ tham gia xây dựng và phát triển nhãn hiệu “Phát thải thấp” cho các sản phẩm trồng trọt; triển khai ít nhất hai mô hình sản xuất giảm phát thải trên cây chè và cây dong riềng có khả năng nhân rộng; thí điểm các mô hình canh tác có tiềm năng phát triển tín chỉ các-bon theo yêu cầu của các tổ chức quốc tế.

Theo Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Thị Loan, để hiện thực hóa mục tiêu này, địa phương đã chỉ đạo thực hiện các nhóm nhiệm vụ trọng tâm, gồm:

Chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp vùng sinh thái; phát triển và áp dụng các gói kỹ thuật canh tác giảm phát thải đối với cây trồng chủ lực; xây dựng mô hình sản xuất giảm phát thải quy mô vùng gắn với chuỗi giá trị; nâng cao năng lực, chuyển đổi nhận thức cho cán bộ và người dân; kết nối thị trường cho sản phẩm phát thải thấp...

Có thể bạn quan tâm