Tạo nguồn lực tham gia thị trường tín chỉ carbon

Rừng ngập mặn phân bố tại các vùng chuyển tiếp giữa đất liền và đại dương là hệ sinh thái đặc biệt có năng suất sinh học cao, có khả năng tích lũy một lượng lớn carbon xanh trong sinh khối và trong đất.

Rừng ngập mặn Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: HỒNG ĐẠT)
Rừng ngập mặn Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: HỒNG ĐẠT)

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0”, rừng ngập mặn ngày càng được nhìn nhận như một nguồn lực quan trọng để tham gia thị trường tín chỉ carbon trong nước và quốc tế.

Hiện nay cả nước có khoảng hơn 14 triệu ha rừng, trong đó rừng ngập mặn khoảng gần 200 nghìn ha, phân bố chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long, ven biển đông bắc, Đồng bằng sông Hồng, ven biển miền trung.

Hệ sinh thái rừng ngập mặn có vai trò đặc biệt quan trọng trong bảo vệ bờ biển, phát triển đa dạng sinh học, cung cấp sinh kế cho người dân địa phương và được đánh giá là bể chứa carbon vùng ven biển.

Đáng chú ý, rừng ngập mặn có năng suất sinh học cao và vòng tuần hoàn của carbon xanh gần như khép kín.

Theo các nhà khoa học, trữ lượng carbon trong hệ sinh thái rừng ngập mặn toàn cầu ước tính đạt khoảng 3,2 tỷ tấn; về giá trị kinh tế, nghiên cứu cho thấy giá trị carbon lưu trữ trong rừng ngập mặn dao động từ 1.000-9.000 USD/ha/năm, tùy thuộc vào đặc điểm sinh thái và vị trí địa lý.

Ở nước ta, trữ lượng carbon của rừng ngập mặn khoảng 245 tấn/ha; trung bình lượng carbon trong sinh khối của thực vật sống (gồm cả phần thực vật sống trên mặt đất và phần rễ dưới mặt đất) chiếm 29%, còn lại 71% nằm trong đất dưới tán rừng ngập mặn.

Theo số liệu cập nhật đến tháng 6/2024, khả năng giảm phát thải từ các dự án rừng ngập mặn ở nước ta đã đạt hơn 1,1 triệu tấn CO2, vượt xa mục tiêu ban đầu là 565 nghìn tấn. Tuy nhiên, việc hiện thực hóa tiềm năng tín chỉ carbon rừng ngập mặn hiện nay còn gặp nhiều trở ngại.

Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Thị Hồng Trang (Trường đại học Khánh Hòa) và cộng sự cho thấy, thách thức lớn nhất nằm ở việc đo lường và xác minh trữ lượng carbon do rừng ngập mặn thường xuyên chịu ảnh hưởng của thủy triều và thay đổi địa chất khiến việc thu thập dữ liệu và duy trì dữ liệu giám sát nhất quán trở nên khó khăn.

Cùng với đó, phần lớn carbon của rừng ngập mặn tích lũy trong rễ và trầm tích, nhưng việc đo lường carbon dưới mặt đất và trong đất lại phức tạp, tốn kém, đồng thời dễ sai số do điều kiện ngập mặn khó tiếp cận.

Ngoài ra, tính bền vững của tín chỉ carbon từ rừng ngập mặn cũng là vấn đề đáng quan tâm bởi hệ sinh thái này dễ tổn thương trước các tác động của biến đổi khí hậu, bão lũ và xói lở bờ biển, dẫn đến nguy cơ tái phát thải lượng carbon đã tích lũy.

Việc xác định trữ lượng và phát thải carbon của rừng ngập mặn đòi hỏi nguồn lực tài chính lớn cũng trở thành một trong những rào cản quan trọng.

Các nhà nghiên cứu cho rằng, ở nhiều quốc gia đang phát triển bao gồm Việt Nam, các dự án rừng ngập mặn thường quy mô nhỏ dẫn đến tín chỉ carbon thu được khó đủ bù chi phí ban đầu, tạo rủi ro tài chính và giảm động lực tham gia thị trường carbon.

Thêm vào đó, những hạn chế về kỹ thuật quản lý, bảo vệ và phục hồi rừng ngập mặn cùng với áp lực suy giảm diện tích do khai thác và chuyển đổi mục đích sử dụng đất cũng là những thách thức đáng quan tâm.

Đối với Việt Nam, thị trường carbon là một loại thị trường mới, cơ sở pháp lý còn đang tiếp tục phải hoàn thiện, đặc biệt các quy định chi tiết về giao dịch, đấu giá hạn ngạch phát thải khí nhà kính, bảo đảm an ninh, an toàn thị trường carbon… chưa đồng bộ, chi tiết. Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực am hiểu về phát triển và thẩm định dự án tạo tín chỉ carbon của nước ta cũng còn thiếu.

Vì vậy, để phát huy những tiềm năng, lợi ích của rừng ngập mặn, cần tăng cường khung chính sách và cơ chế chia sẻ lợi ích, hướng tới việc phát huy tối đa giá trị kinh tế-sinh thái mà rừng ngập mặn có thể mang lại trong tiến trình phát triển xanh và ứng phó biến đổi khí hậu của quốc gia.

Nhiều quy định liên quan giảm phát thải, tín chỉ carbon cũng đã được ban hành như: Nghị định số 06/2022/NĐ-CP về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozone; Quyết định số 13/2024/QĐ-TTg về ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính; Quyết định số 232/QĐ-TTg về việc thành lập và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam...

Theo lộ trình, giai đoạn 2023-2027, Việt Nam sẽ tập trung xây dựng hệ thống quy định, chính sách, đồng thời thí điểm vận hành sàn giao dịch tín chỉ carbon, hướng tới chính thức đưa vào hoạt động từ năm 2028; đến năm 2029 chính thức vận hành sàn giao dịch trong nước.

Theo nhà nghiên cứu Huỳnh Thị Hồng Trang, để rừng ngập mặn có thể tham gia thị trường carbon một cách hiệu quả, Việt Nam cần ưu tiên xây dựng cơ sở dữ liệu carbon chuẩn hóa, triển khai các mô hình dự án liên tỉnh nhằm mở rộng quy mô phát hành tín chỉ.

Bên cạnh đó, cần thiết lập cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng địa phương, khuyến khích mô hình sinh kế kết hợp dưới tán rừng, thúc đẩy hợp tác công-tư, đồng thời huy động nguồn lực từ các quỹ khí hậu quốc tế nhằm vừa bảo tồn hệ sinh thái vừa khai thác hiệu quả cơ hội từ tín chỉ carbon.

Có thể bạn quan tâm