Giữ an ninh nguồn nước đô thị

An ninh nguồn nước của Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ là bảo đảm đủ nước cho hiện tại, mà còn là bảo đảm nguồn nước đủ chất lượng, đủ khả năng dự phòng cùng mạng lưới bền vững phục vụ gần 14 triệu dân của thành phố.

Nhà máy nước Thủ Đức lấy nguồn nước thô từ sông Đồng Nai, đồng thời là “trung tâm điều tiết” áp lực, cung cấp nước sinh hoạt chính cho Thành phố Hồ Chí Minh.
Nhà máy nước Thủ Đức lấy nguồn nước thô từ sông Đồng Nai, đồng thời là “trung tâm điều tiết” áp lực, cung cấp nước sinh hoạt chính cho Thành phố Hồ Chí Minh.

Bước vào mùa khô, cùng với thách thức của biến đổi khí hậu, các đơn vị quản lý cấp nước đã đẩy mạnh ứng dụng các giải pháp công nghệ, theo dõi chất lượng nước liên tục, nhất là kiểm soát nghiêm ngặt chất lượng nước thô đầu vào.

Thách thức về ô nhiễm thượng nguồn

Thành phố Hồ Chí Minh có hai cụm nhà máy xử lý nước thô là Nhà máy nước Thủ Đức và Nhà máy nước Tân Hiệp. Ở phía đông và đông bắc, Nhà máy nước Thủ Đức lấy nguồn nước từ sông Đồng Nai, đồng thời là “trung tâm điều tiết” áp lực, sản lượng cho toàn bộ hệ thống cấp nước của thành phố với công suất 750.000m³/ngày.

Ở phía tây và tây nam, Nhà máy nước Tân Hiệp với nguồn nước thô khai thác từ sông Sài Gòn với công suất 600.000m3/ngày đã góp phần bảo đảm sự ổn định và bền vững để cấp nước cho hàng triệu cư dân. Bên cạnh đó, các nhà máy nước của doanh nghiệp đầu tư như Nhà máy BOO Thủ Đức, BOO Thủ Đức III, Nhà máy nước Kênh Đông... đã nâng tổng công suất cấp nước từ Tổng công ty Cấp nước Sài Gòn (Sawaco) cho toàn thành phố khoảng 2,4 triệu mét khối/ngày.

Tuy nhiên, việc sử dụng nguồn nước thô từ hệ thống sông Đồng Nai-Sài Gòn khiến thành phố đang đối mặt những thách thức về ô nhiễm thượng nguồn, biến đổi khí hậu, sụt giảm nước ngầm và áp lực dân số ngày càng tăng. Kết quả phân tích và khảo sát của Sở Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, thành phố trước sáp nhập có 20 khu công nghiệp, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp với lượng nước thải công nghiệp gần 50.000 m3/ngày.

Bên cạnh đó, hiện thành phố có hơn 30.000 cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và hầu hết chưa có hệ thống nước thải thuộc nhiều ngành nghề như thực phẩm, dệt may, nhuộm, hóa chất… cho nên dồn áp lực lên hệ thống sông, trong đó có hệ thống sông Ðồng Nai-Sài Gòn. Qua tính toán, trong số các nguồn tiếp nhận nước thải đô thị, sông Sài Gòn tiếp nhận lượng chất thải nhiều nhất với 76,21% tổng lượng nước thải và 66,6% tổng tải lượng BOD5.

Trong khi đó, dưới lòng đất, nguồn nước ngầm suy giảm nhanh, còn tình trạng xâm nhập mặn ngày càng diễn biến khó lường. Kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu phát triển bền vững, Trường đại học Tài Nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh công bố cho thấy: Tình trạng sụt lún tại thành phố diễn ra có tốc độ ngay càng tăng, với độ lún tích lũy qua các năm ước tính khoảng 1m, trong đó có nguyên nhân do khai thác nước ngầm mất kiểm soát. Đây là một trong những nguyên nhân làm mạch nước ngầm suy giảm mạnh, chậm được bổ cập. Do đó, ngành cấp nước thành phố cần có những giải pháp quyết liệt nhằm hạn chế khai thác nước ngầm.

Phối hợp liên vùng, nâng cao năng lực quản lý

Ông Trần Thái Nguyên, Giám đốc Nhà máy cấp nước Thủ Đức - nhà máy có công suất cấp nước lớn nhất Thành phố Hồ Chí Minh cho biết: Dưới tác động của biến đổi khí hậu và quá trình đô thị hóa, dọc lưu vực sông Đồng Nai, chất lượng nguồn nước thô đã có một số chỉ tiêu có dấu hiệu xấu hơn như: Hàm lượng vi sinh vật cao gấp 5-10 lần quy chuẩn, có một vài thời điểm bị ô nhiễm hữu cơ (Hàm lượng TOC) vượt 1.2-1.5 lần quy chuẩn.

Ngoài ra, trong những năm có tác động của El Nino đã gia tăng ô nhiễm tảo (do nhiệt độ tăng và mực nước giảm). Những chất này sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình xử lý nước. Từ đó, yêu cầu giám sát chất lượng nước sạch trên toàn hệ thống cấp nước từ nguồn nước thô, tại các nhà máy xử lý nước và trên mạng lưới cấp nước cũng được đặt lên hàng đầu.

Theo đại diện Phòng Quản lý chất lượng nước của Sawaco, cùng với áp dụng khoa họccông nghệ, để bảo đảm giám sát kịp thời biến đổi về chất lượng nước nguồn từ đó có giải pháp ứng phó kịp thời, Sawaco đã lắp đặt các hệ thống giám sát trực tuyến liên tục (hệ thống giám sát online) đối với những chỉ số quan trọng như độ màu, độ đục, hàm lượng hữu cơ, độ mặn..., nhằm đánh giá hiệu quả xử lý nước.

Đồng thời, trên hệ thống mạng lưới cấp nước sạch cũng được lắp đặt các hệ thống giám sát online tại vị trí trước khi đưa vào hệ thống mạng lưới và một số vị trí trọng yếu trên mạng lưới cấp nước nhằm bảo đảm giám sát chất lượng nước tốt nhất. Ngoài ra, các nhà máy cũng áp dụng công nghệ giám sát độc chất định tính bằng vi sinh. Khi nguồn có độc chất bất thường vi sinh sẽ biến động, từ đó cảnh báo và tự lấy mẫu để phân tích định lượng và loại độc chất có thể có.

Sawaco đang lập kế hoạch trong năm 2026 sẽ thực hiện đầu tư thêm hệ thống châm than hoạt tính để bảo đảm xử lý mùi, màu và độc chất có trong nước. Ngoài ra, trước thách thức bảo vệ nguồn nước, ngành cấp nước thành phố đã chủ động thực hiện lộ trình giảm và tiến tới chấm dứt khai thác nước ngầm theo Quyết định của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đến cuối năm 2025, Sawaco đã giảm việc sử dụng, khai thác nước ngầm tại các trạm và giếng do đơn vị quản lý từ 100.000 m3/ngày còn 36.000 m3/ngày và lộ trình sẽ giảm xuống còn 30.000 m3/ ngày; đã trám lấp giếng không khai thác và đang lập dự án trám lấp nhiều giếng khác trên địa bàn thành phố.

Trong đó, Xí nghiệp Cấp nước sinh hoạt nông thôn thành phố đã hoàn thành trám lấp 166 giếng tại 79 trạm và đang trình rà soát, tổng hợp các giếng hư, không sử dụng để tiếp tục trám lấp.

Tiến sĩ Nguyễn Huy Cương, Trưởng bộ môn Cấp thoát nước (Trường đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng, nếu thành phố tổ chức quy hoạch và thực hiện mô hình cấp nước liên vùng, liên tỉnh, khi đó có thể xây dựng nhà máy nước gần đầu nguồn với hai nguồn nước thô chính cho thành phố là hồ Dầu Tiếng (cốt nền 28m) và hồ Trị An (cốt nền 80m).

Như vậy, việc truyền tải nước sạch từ hai điểm này cho các địa phương xuôi về phía hạ nguồn (sông Sài Gòn, sông Đồng Nai), trong đó có Thành phố Hồ Chí Minh sẽ thuận lợi, góp phần giảm được chi phí điện năng và quan trọng hơn nữa là nguồn nước thô có chất lượng tốt hơn, hạn chế ô nhiễm và hạn mặn so với lấy nước từ các vị trí như hiện nay.

Trước bối cảnh hiện tại, bảo đảm nguồn nước sạch cho người dân không chỉ là một yêu cầu dịch vụ công thiết yếu, mà đã trở thành nhiệm vụ chiến lược của Thành phố Hồ Chí Minh.

Để thích ứng với tình hình biến đổi khí hậu đòi hỏi sự phối hợp liên vùng, đầu tư công nghệ hiện đại, nâng cao năng lực quản lý và chủ động dự báo sớm. Đây là điều kiện căn bản cho sự phát triển bền vững của thành phố có cực tăng trưởng lớn nhất nước.

Có thể bạn quan tâm