Tối ưu hóa quy trình, nâng cao hiệu quả khai thác
Từ năm 2019, Cảng container quốc tế SP-ITC (phường Long Trường) đã nhanh chóng ứng dụng giải pháp số. Cảng SP-ITC đã chuyển sang sử dụng phần mềm quản lý cảng VTOS (công nghệ Việt Nam), thay thế cho hệ thống cũ thường bị “treo” khi cao điểm. Sau khi vận hành, VTOS giúp SP-ITC số hóa 100% tác nghiệp khai thác, bảo đảm tích hợp dữ liệu thông quan hải quan điện tử ổn định, đưa VTOS dần thay thế các phần mềm nước ngoài đắt đỏ. Cùng với đó, SP-ITC đã ra mắt hệ sinh thái công nghệ Vietnam Smarthub Logistics (VSL)-một nền tảng điện toán đám mây kết nối cảng với hãng tàu, doanh nghiệp xuất-nhập khẩu, ngân hàng… để xử lý các dịch vụ cảng và logistics theo thời gian thực. Thông qua VSL, khách hàng của SP-ITC có thể làm mọi thủ tục trực tuyến; giúp tiết kiệm thời gian và chi phí, giảm tiếp xúc trực tiếp (trong mùa dịch Covid-19).
Còn Công ty cổ phần Cảng Sài Gòn đã hợp tác với doanh nghiệp công nghệ trong nước để phát triển bộ giải pháp SGP-TOS tích hợp (VTOS + GTOS + VSL). Sau khi thử nghiệm thành công, hệ thống này đã được Cảng Sài Gòn triển khai đồng bộ từ cuối năm 2023-đầu 2024 tại cảng Tân Thuận và cảng Hiệp Phước, thay thế phần mềm CATOS cũ đã dùng từ năm 2006. SGP-TOS cùng với nền tảng dịch vụ trực tuyến VSL cho phép cảng quản lý tập trung mọi hoạt động container và hàng tổng hợp; đồng thời, cung cấp các dịch vụ trực tuyến như đăng ký dịch vụ bãi, kho, thanh toán điện tử, tra cứu dữ liệu… Còn tại Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn, các đơn vị thành viên đã đưa vào ứng dụng nhiều phần mềm, chương trình thông minh, tự động hóa như: Hệ thống quản lý kho hàng điện tử eWMS (năm 2021, khi đại dịch Covid-19 hoành hoành), giúp tiết kiệm thời gian, chi phí cho khách hàng và giảm thiểu các giao dịch trực tiếp, bảo đảm an toàn trong mùa dịch Covid-19; phần mềm quản lý container TOPOVN (năm 2015), giúp giảm thời gian giao nhận hàng từ 2-3 giờ mỗi container xuống còn khoảng 30 phút; ứng dụng cảng điện tử ePort (năm 2012), cho phép tra cứu thông tin container, lịch tàu, đăng ký làm hàng và thanh toán trực tuyến; lệnh giao nhận điện tử (eDO) và đăng ký dịch vụ trực tuyến (năm 2019)…
Và từ tháng 5/2024, một thành viên khác của Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn là Công ty cổ phần Kho vận Tân Cảng đã vận hành hệ thống Cổng tự động (Autogate) tại cổng C, Cảng Tân Cảng Cát Lái. Đây là cảng đầu tiên thuộc hệ thống Tân Cảng Sài Gòn áp dụng Autogate để kiểm soát người, phương tiện giao nhận hàng lẻ tại khu vực kho, bãi. Hệ thống này có những tính năng vượt trội như: Sử dụng công nghệ OCR (Optical Character Recognition) và công nghệ Facematch để nhận dạng và trích xuất thông tin lái xe và biển số xe với độ chính xác gần như tuyệt đối. Điều này cho phép lái xe không phải di chuyển để làm thủ tục đăng ký bằng giấy như trước đây. Hệ thống Autogate còn giúp tài xế chủ động thời gian lấy hàng; không phải xuất trình phiếu tải khi check-in/check-out tại cổng; tiết kiệm thời gian chờ đợi; giảm ùn tắc giao thông tại cổng cảng và quanh khu vực kho...
Nhận diện và tháo gỡ những điểm nghẽn
Khó khăn, thách thức hàng đầu là nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu công việc trong hoàn cảnh mới. Trước kia, hoạt động cảng biển truyền thống vốn thâm dụng lao động phổ thông, nay cần chuyển sang mô hình vận hành bằng công nghệ và kỹ thuật số, đòi hỏi nhân sự có kỹ năng công nghệ thông tin. Thế nhưng, trong thực tế, nhiều doanh nghiệp cảng thiếu hụt nhân sự am hiểu công nghệ số để vận hành hệ thống mới. Trong khi đó, công tác đào tạo lại đội ngũ nhân sự hiện hữu và tuyển dụng nhân lực công nghệ số chất lượng cao đang là bài toán nan giải, đặc biệt là khi mức thu nhập nhân sự công nghệ thông tin ở các lĩnh vực khác cao hơn so với ngành cảng biển.
Theo nhóm nghiên cứu của Viện Nghiên cứu và Phát triển Logistics Việt Nam (VLI), hiện nay, mỗi cảng biển thường sử dụng một phần mềm riêng; dẫn tới tình trạng thiếu kết nối, liên thông dữ liệu giữa các cảng. Chẳng hạn, các cảng thuộc hệ sinh thái Tân Cảng Sài Gòn sử dụng phần mềm riêng, khác với cảng SP-ITC và các cảng khác. Việc mỗi cảng sử dụng một phần mềm khác nhau gây lãng phí nguồn lực và khó khăn cho khách hàng khi phải tìm cách tương thích với nhiều hệ thống. Để các hệ thống kết nối, liên thông được với nhau, cần một cơ quan “cầm trịch” đặt ra chuẩn dữ liệu chung, đồng bộ hóa dữ liệu và hạ tầng công nghệ thông tin các cảng. Cùng với đó, việc chuyển đổi số đòi hỏi chi phí đầu tư lớn vào phần mềm, phần cứng, hạ tầng mạng... Chi phí mua hoặc phát triển một hệ thống phần mềm quản lý cảng tiên tiến có thể lên đến vài triệu USD. Nhiều doanh nghiệp cảng cũng lo sợ rủi ro khi tiêu tốn chi phí lớn cho công nghệ mới, trong khi hiệu quả chưa được kiểm chứng ngay. Không những vậy, việc duy trì, nâng cấp hệ thống công nghệ cao cũng tốn kém và cần nhân sự có trình độ cao. Đối với các cảng có quy mô nhỏ, đây là rào cản lớn khiến tiến độ số hóa bị chậm lại.