Chịu đựng mãi rồi cũng quen dần. Quen đói, quen rét. Quen phơi mặt trên giàn giáo, trên vỉa hè nóng rẫy, trên đường nhựa như táp lửa. Cũng như quen trong phòng máy lạnh, ô-tô điều hòa. Nhìn ra ngoài trời không thấy nắng như chảo lửa, chỉ thấy giữa trưa đường phố vắng hẳn bóng người. Ai cũng trùm khăn kín mít, áo váy bao bọc. Không thấy mặt người héo hon, khô quắt. Thân xác đã cạn kiệt, vắt chẳng ra một giọt mồ hôi. Ông cũng lẫn trong những đám người vật vã vì cuộc mưu sinh. Cũng biết trú nắng trong những siêu thị, trung tâm thương mại, hưởng ké làn gió điều hòa mát rượi. Cũng tìm chỗ tránh nóng dưới bóng cây râm mát hay mái hiên thoáng gió. Nóng thế, nóng có tăng lên vài độ thì cũng phải dấn bước, cắm đầu vào lò lửa rừng rực táp vào mặt. Không đi thì lấy gì mà sống, mà nuôi vợ con? Nghe nói, ở miền trung, người dân rủ nhau vào hang động trú nắng, coi như cái “điều hòa tổng”. Bà con thắp đèn ra đồng từ khi mặt trời chưa lên. Nhanh chóng làm lụng… chạy nắng. Còn ở thành phố, biết chạy đâu, trốn đâu giữa “rừng” bê-tông, cốt thép, khung nhôm kính vây bọc bốn bề? Hàng triệu cái xe máy, hàng vạn chiếc ô-tô xả khói bụi, hơi nóng. Hỏi làm sao thành phố này không biến thành chảo lửa? Đã có ai đếm được chính xác mấy vạn, mấy triệu cái điều hòa treo trên tường. Riêng ông biết chắc, còn vô vàn ngôi nhà cấp bốn, khu lao động, khu nhà trọ, không thể tìm ra một cái điều hòa nào. Lương tối thiểu còn chưa đủ sống tối thiểu, lấy đâu ra tiền sắm máy lạnh, trả tiền điện.
Chợt nhớ, sau mấy hôm mở đầu trận nóng “thế kỷ”, nhiều người hàng xóm như cảm thấy “rực” người bởi ngó lên ti-vi thấy họ “trình diễn” cảnh rán trứng, rán thịt bằng chảo phơi nắng trên sân thượng. Để chứng minh là ngoài trời nóng… chảy mỡ, cháy da, cháy thịt thật. Họ cũng đưa cảnh người dân, từ già tới trẻ con lũ lượt kéo nhau lên hồ Tây, xuống hồ Linh Đàm tắm mát. Lại còn trèo vắt vẻo lan-can cầu Nhật Tân hóng gió sông Hồng. Ông xem báo thấy cảnh người lao động trốn nắng dưới gầm cầu vượt, hầm đường bộ. Chui cả vào ống cống ngổn ngang bên vệ đường làm chỗ nghỉ trưa. Liệu chừng đó có đủ “chia lửa”, san sẻ nỗi cơ cực, quay cuồng chống chọi của những thân phận lao động nhập cư, bán hàng rong, đồng nát… chui rúc trong nhà trọ chật hẹp, lợp phi-brô xi-măng chẳng khác gì những cái hộp bịt kín bưng. Sinh viên chỉ việc ăn với học cũng chung cảnh ngộ “cơm niêu, nước lọ” trong căn phòng như “xông hơi”. Ông không hiểu vì sao người ta không “cận cảnh”, phỏng vấn những cảnh đời éo le như thế, dù điều tra các ông chủ có cách nào chống nóng cho thợ?
Sáng nay, ông bật dậy rất sớm, hơn cả những con chim bay đi kiếm mồi trước khi mặt trời trồi lên. May mà ông không “nghiện” máy lạnh, nên giấc ngủ sâu, đầu óc tỉnh táo, dù khi vào giấc có vật vã mươi phút. Ngỡ tưởng là sớm hơn mọi sáng. Vậy mà, mặt trời đã nhoi lên đằng sau chiếc cần cẩu phía chân trời rừng rực như than hồng. Trông chiếc cần cẩu thép, tưởng như vừa nung trong lò, đỏ mềm. Nhìn kỹ có thể nhận ra thấp thoáng những bóng người li ti trên giàn giáo tòa nhà đang xây dở. Khắp thành phố còn nhiều lắm những chấm nhỏ, những “con ong, cái kiến” mải miết tha mồi. Đường phố ban trưa vắng người qua lại chẳng khác thời sơ tán. Người chạy nắng đổ ra ven hồ, nấp dưới những bóng cây. Còn những người không phải lo miếng cơm, manh áo thì kéo nhau vào những quán bia máy lạnh, quạt phun sương mờ mịt. Giá như bây giờ được uống một cốc nước đun sôi, một cốc trà đá, chắc cơ thể sẽ hạ nhiệt, đầu óc thăng bằng trở lại. Nghĩ thế, ông gò lưng đạp xe, cố thu mình nhỏ lại, tựa chấm tròn trên đường nhựa bốc hơi ngột ngạt. Cắm cúi đạp, chợt ngước mắt nhìn lên, ông ngỡ mình hoa mắt. Gốc cây ven đường có biển đề “Trà đá miễn phí. Đừng ngại!”. Bình trà đá với mấy cốc nhựa đựng trong khay sạch sẽ đặt ngay ngã ba đường. Nhiều người qua đường dừng lại, vẻ nghi ngại. Giữa cái nắng oi ả, cháy da cháy thịt, lại có người sẵn lòng miễn phí trà đá cho người dưng. Ông thoáng ngập ngừng. Nhưng thấy bà gánh hàng rong, ông xe ôm, cô đẩy xe thồ đồ sành sứ… đang xúm xít quanh bình trà. Hình như họ đã quen uống trà đá miễn phí. Chậm rãi nhâm nhi từng ngụm nước mát lành giữa cái nóng như thiêu đốt.Cười nói rôm rả. Ông rón chân, cầm cốc nước sóng sánh những viên đá từ tay bà đồng nát. Chắc ông lần đầu uống trà đá miễn phí, bà ta xởi lởi, tôi uống mấy lần rồi. Thoạt tiên cũng như ông, thế rồi thấy hai chữ “đừng ngại” mới dám ghé vào. Với nhiều người, một cốc trà đá mấy ngàn đồng có đáng là gì. Còn với những người nhặt nhạnh từng đồng như tôi, quý hóa lắm. Quý nhất là còn có người nghĩ tới mình trong lúc nóng nôi, cháy khát này…
Lặng im, không nói nửa lời, ông cảm thấy nước trà thấm vào cơ thể đến đâu, biết đến đấy. Chất chè chát xít đầu lưỡi, để lại dư vị ngòn ngọt, khó tả, khó quên. Nhìn lâu mầu nước chè xanh dương ngả ánh vàng, thấy nắng dịu hẳn. Trời như bớt lửa, ai nấy uống một hai cốc đã cơn khát, lại lên đường. Nhìn quanh không còn ai để nói lời cảm ơn, ông cảm thấy áy náy. Nấn ná mãi, cuối cùng thấy có người phụ nữ nhẹ nhàng mở cửa, xách xô nước trà đá, đổ đầy bình. Rồi lại vội vã vào nhà, khép cửa. Chắc hẳn, người ấy không muốn nhận lời cảm ơn. Có bóng người để trú nắng cũng thấy dịu mắt.