Từ nhu cầu cấp bách chống ngập, những bể điều tiết ngầm đang mở ra cách tiếp cận mới cho hạ tầng đô thị. Trong bối cảnh Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm vừa được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua, những công trình này được kỳ vọng đặt nền móng cho chiến lược phát triển không gian ngầm dài hạn.
Công trình hạ tầng ngầm phục vụ điều tiết nước mưa.
Công trình hạ tầng ngầm phục vụ điều tiết nước mưa.
Xây dựng hệ thống thoát nước đô thị tại khu vực trung tâm Hà Nội.
Xây dựng hệ thống thoát nước đô thị tại khu vực trung tâm Hà Nội.
“BỘ ĐỆM” quan trọng trong hệ thống thoát nước của Thủ đô
Trong nhiều năm qua, tình trạng ngập úng tại Hà Nội luôn là bài toán nan giải, đặc biệt tại các khu vực trung tâm có mật độ xây dựng cao và hệ thống thoát nước đã dần quá tải. Chỉ cần một trận mưa lớn kéo dài, nhiều tuyến phố như Đường Thành, Bát Đàn, Phùng Hưng hay khu vực chung quanh chợ Hàng Da nhanh chóng rơi vào tình trạng ngập cục bộ, gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống người dân và hoạt động kinh doanh.
Nguyên nhân không chỉ đến từ lượng mưa lớn bất thường do biến đổi khí hậu, mà còn xuất phát từ đặc thù hạ tầng đô thị cũ, thiếu không gian tích trữ nước tạm thời. Trong khi đó, việc mở rộng hệ thống cống ngầm truyền thống tại khu phố cổ gần như không khả thi do hạn chế về mặt bằng và yếu tố bảo tồn.
Công trường xây dựng bể điều tiết ngầm phục vụ chống ngập. (Video: Hồng Quân)
Công trường xây dựng bể điều tiết ngầm phục vụ chống ngập. (Video: Hồng Quân)
Trong bối cảnh đó, mô hình bể điều tiết ngầm đang được Hà Nội lựa chọn như một hướng đi phù hợp. Đây là công trình có chức năng thu gom, lưu trữ tạm thời lượng nước mưa khi lưu lượng tăng đột biến, sau đó xả dần vào hệ thống cống khi điều kiện cho phép.
Để ứng phó với mùa mưa năm 2026, thành phố đã triển khai một loạt dự án chống ngập cấp bách. Các ông trình này được kỳ vọng sẽ góp phần giảm thiểu tình trạng ngập úng cho khu vực trung tâm, đặc biệt là các tuyến phố có địa hình trũng và mật độ giao thông cao.
Với vai trò như một “bộ đệm”, bể điều tiết ngầm có khả năng tiếp nhận lượng nước mưa lớn trong thời gian ngắn, giúp giảm áp lực tức thời lên hệ thống cống hiện hữu. Khi mưa lớn xảy ra, thay vì dồn toàn bộ nước vào hệ thống thoát nước vốn đã quá tải, một phần sẽ được giữ lại trong bể, từ đó hạn chế nguy cơ tràn cống và ngập mặt đường.
Đáng chú ý, trong Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua ngày 28/3, Hà Nội xác định phạm vi quy hoạch bao trùm toàn bộ địa giới hành chính khoảng 3.359,84km², đồng thời tăng cường liên kết vùng với Đồng bằng sông Hồng và các hành lang kinh tế lớn.
Dưới góc nhìn chuyên môn, ông Nguyễn Đức Hùng, Phó Viện trưởng Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội cho rằng, Quy hoạch Thủ đô lần này đánh dấu bước chuyển căn bản trong tư duy phát triển đô thị, khi lần đầu đặt ra tầm nhìn 100 năm mang tính chiến lược, xuyên suốt và ổn định. Trong cấu trúc đó, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là thoát nước đô thị, được đặt trong bài toán tổng thể, liên vùng và dài hạn hơn.
Ông Nguyễn Đức Hùng nhận định Quy hoạch Thủ đô mới là bước chuyển tư duy với tầm nhìn chiến lược 100 năm, ổn định và xuyên suốt.
Ông Nguyễn Đức Hùng nhận định Quy hoạch Thủ đô mới là bước chuyển tư duy với tầm nhìn chiến lược 100 năm, ổn định và xuyên suốt.
"Tầm nhìn 100 năm được nhấn mạnh như một giải pháp khắc phục những hạn chế trước đây, khi các vấn đề lớn như ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường hay quá tải hạ tầng không thể giải quyết trong ngắn hạn"
Trong tổng thể hệ thống thoát nước của Thủ đô, các bể điều tiết ngầm giữ vai trò như một mắt xích quan trọng ở cấp độ khu vực, góp phần xử lý nhanh các điểm ngập cục bộ và giảm tải áp lực cho mạng lưới cống hiện hữu.
Đây được xem là bước đi thử nghiệm, tạo nền tảng thực tiễn để Hà Nội từng bước hoàn thiện mô hình hạ tầng ngầm trong tương lai. Khi đặt trong tầm nhìn đến năm 2035 và xa hơn đến 2045, 2065, khi Hà Nội hướng tới trở thành trung tâm kinh tế, đổi mới sáng tạo hàng đầu khu vực và “Thành phố toàn cầu”, các công trình hạ tầng như bể điều tiết ngầm sẽ đóng vai trò nền tảng cho khả năng thích ứng và vận hành bền vững của đô thị.
Rút ngắn 30% chi phí và thời gian thi công nhờ ƯU THẾ CÔNG NGHỆ
Trong quá trình triển khai các bể điều tiết ngầm tại Hà Nội, xu hướng ứng dụng công nghệ bê-tông đúc sẵn đang ngày càng được ưu tiên nhờ những lợi thế rõ rệt về tiến độ và hiệu quả thi công. Theo thiết kế phổ biến, thân bể được cấu thành từ các cấu kiện bê-tông sản xuất sẵn tại nhà máy với độ chính xác cao, sau đó vận chuyển đến công trường để lắp đặt theo dạng module. Các cấu kiện này thường được bố trí thành nhiều khoang song song, tạo nên không gian chứa nước có dung tích phù hợp với từng khu vực, trong khi một số vị trí quan trọng vẫn sử dụng bê-tông toàn khối nhằm bảo đảm độ ổn định kết cấu.
Hiện nay, một số công trình tiêu biểu tại khu vực trung tâm, trong đó có bể điều tiết ngầm khu vực chợ Hàng Da (phường Hoàn Kiếm), đang được triển khai áp dụng công nghệ bê-tông đúc sẵn lắp ghép với độ sâu khoảng 6,5m dưới mặt đường, cho thấy tính khả thi của giải pháp này trong điều kiện đô thị chật hẹp.
Bản thiết kế bê-tông đúc sẵn được sử dụng tại dự án bể điều tiết ngầm khu vực chợ Hàng Da. (Ảnh: Trung tâm Quản lý hạ tầng TP Hà Nội)
Bản thiết kế bê-tông đúc sẵn được sử dụng tại dự án bể điều tiết ngầm khu vực chợ Hàng Da. (Ảnh: Trung tâm Quản lý hạ tầng TP Hà Nội)
Lao động thi công công trình chống ngập đô thị.
Lao động thi công công trình chống ngập đô thị.
Công trình sử dụng công nghệ lắp đặt cấu kiện bê-tông đúc sẵn.
Công trình sử dụng công nghệ lắp đặt cấu kiện bê-tông đúc sẵn.
Về bản chất, công nghệ này chuyển phần lớn công đoạn thi công từ hiện trường sang nhà máy, giúp kiểm soát chất lượng vật liệu và kỹ thuật tốt hơn, hạn chế sai số và rủi ro trong quá trình xây dựng. Nhờ đó, tiến độ thi công được rút ngắn đáng kể, các hạng mục có thể triển khai song song thay vì tuần tự như phương pháp truyền thống, qua đó đáp ứng yêu cầu hoàn thành trước mùa mưa năm 2026.
Theo đại diện một số đơn vị quản lý hạ tầng, việc áp dụng cấu kiện bê-tông đúc sẵn có thể giúp tiết kiệm chi phí và thời gian đáng kể so phương pháp thi công truyền thống.
“Tổng kinh phí đầu tư rơi vào khoảng 18,2 tỷ đồng, trong đó việc sử dụng cấu kiện bê-tông đúc sẵn giúp tiết kiệm đến 30% so việc thi công theo phương pháp truyền thống”
Đại diện chủ đầu tư dự án bể điều tiết ngầm khu vực chợ Hàng Da - Trung tâm Quản lý hạ tầng thành phố Hà Nội - cho biết.
Bên cạnh hiệu quả kinh tế, phương pháp này còn góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường đô thị như bụi, tiếng ồn và chất thải xây dựng, đặc biệt tại các khu vực có mật độ dân cư và giao thông cao.
Trong khi đó, nếu đặt cạnh phương pháp thi công truyền thống đang được áp dụng tại khu vực bể điều tiết tại khu vực bãi đất trống dốc cầu Đuống (xã Phù Đổng), sự khác biệt về công nghệ và tổ chức thi công trở nên rõ nét.
Thi công bể điều tiết ngầm tại khu vực dốc cầu Đuống.
Thi công bể điều tiết ngầm tại khu vực dốc cầu Đuống.
Tại khu vực này, do không nằm trong khu vực dân cư đông đúc và ít chịu áp lực về giao thông, công trình chủ yếu sử dụng phương pháp đổ bê-tông toàn khối tại chỗ. Quy trình này đòi hỏi thực hiện tuần tự nhiều công đoạn như đào đất, dựng cốp pha, lắp đặt cốt thép, rồi mới tiến hành đổ bê-tông và chờ thời gian đông kết, bảo dưỡng trước khi chuyển sang hạng mục tiếp theo.
Cách làm này tuy bảo đảm tính liền khối và độ ổn định kết cấu cao, nhưng lại kéo dài thời gian thi công và phụ thuộc lớn vào điều kiện thời tiết cũng như mặt bằng tổ chức công trường.
Sự khác biệt giữa hai phương pháp cho thấy, việc lựa chọn công nghệ thi công bể điều tiết ngầm cần dựa trên điều kiện cụ thể của từng khu vực, bao gồm mật độ đô thị, yêu cầu về tiến độ cũng như khả năng tổ chức mặt bằng thi công.
Bên cạnh những lợi thế về tiến độ và ảnh hưởng dân sinh, vấn đề độ bền công trình vẫn là yếu tố được đặc biệt quan tâm.
Dưới góc nhìn chuyên môn, Tiến sĩ Đỗ Xuân Đức cho rằng yếu tố quyết định nằm ở năng lực quản trị chất lượng đầu vào. Với công nghệ đúc sẵn, lợi thế nằm ở việc tiêu chuẩn hóa sản xuất trong nhà máy, cho phép kiểm định chặt chẽ từng lô vật liệu, từng cấu kiện trước khi đưa ra công trường. Cũng theo ông, khi hệ thống kiểm soát chất lượng đầu vào được thực hiện nghiêm ngặt, kết hợp quy trình lắp ghép chính xác, các công trình hoàn toàn có thể đạt tuổi thọ và độ ổn định, lâu bền rất tốt so với phương pháp thi công truyền thống.
Tiến sĩ Đỗ Xuân Đức, giảng viên Bộ môn Biến đổi khí hậu và Khoa học bền vững, Khoa Kiến trúc, Đô thị và Khoa học bền vững, trường Khoa học liên ngành và nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Tiến sĩ Đỗ Xuân Đức, giảng viên Bộ môn Biến đổi khí hậu và Khoa học bền vững, Khoa Kiến trúc, Đô thị và Khoa học bền vững, trường Khoa học liên ngành và nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội
"Trong bối cảnh Hà Nội đang đẩy mạnh phát triển hạ tầng ngầm, giải pháp bê-tông đúc sẵn lắp ghép được xem là hướng đi phù hợp, không chỉ về mặt kỹ thuật mà còn về khía cạnh xã hội và quản lý đô thị. Độ bền của công trình chủ yếu phụ thuộc vào chất lượng nguyên vật liệu như xi-măng, cốt thép,... cùng với khả năng kiểm soát và truy xuất nguồn gốc rõ ràng trong toàn bộ chuỗi cung ứng"
Hướng tới hạ tầng
bền vững cho THỦ ĐÔ
Trên thế giới, mô hình bể điều tiết ngầm đã được triển khai từ lâu tại nhiều quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc hay Singapore, những nơi có mật độ đô thị cao và thường xuyên đối mặt với mưa lớn.
Tại Nhật Bản, các hệ thống hầm chứa nước khổng lồ dưới lòng đất như Metropolitan Area Outer Underground Discharge Channel (MAOUDC) không chỉ giúp chống ngập mà còn trở thành một phần quan trọng trong chiến lược quản lý nước tổng thể.
Trong khi đó, Singapore cũng phát triển các hồ chứa và bể điều tiết ngầm gắn với không gian công cộng, tiêu biểu như Marina Barrage, tạo nên sự kết hợp giữa hạ tầng kỹ thuật và cảnh quan đô thị.
Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Đỗ Xuân Đức, việc tham chiếu các mô hình quốc tế cần đi kèm với phân tích đầy đủ điều kiện tự nhiên và hạ tầng đặc thù của từng đô thị. So các công trình quốc tế, bể điều tiết ngầm tại khu vực chợ Hàng Da có quy mô nhỏ hơn, song lại mang ý nghĩa như một bước thử nghiệm trong việc thích ứng với điều kiện đặc thù của Hà Nội - nơi sở hữu hệ thống sông ngòi dày đặc, với trục chính là sông Hồng cùng nhiều sông nội đô. Đây chính là lợi thế tự nhiên mà không phải đô thị nào cũng có.
Đặc biệt, Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm đã xác định rõ mục tiêu xây dựng Hà Nội trở thành “thành phố toàn cầu, đại đô thị văn hiến-thông minh-sáng tạo-sinh thái”.
"Với Nghị quyết 02-NQ/TW ban hành gần đây, có thể khẳng định đây là bước đột phá lớn nhất trong tư duy quy hoạch. Lần đầu tiên Hà Nội đặt ra tầm nhìn 100 năm, thay vì chỉ 30-40 năm như trước"
Chuyên gia Đào Ngọc Nghiêm
Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam
Tuy nhiên, ông Nghiêm cũng cho rằng để hiện thực hóa tầm nhìn này, điều quan trọng là phải bảo đảm tính ổn định, tiếp cận đồng bộ và có nguyên tắc, tránh tình trạng điều chỉnh theo ngắn hạn.
Theo ông Nghiêm, quy hoạch lần này đã chuyển từ tư duy không gian “tĩnh” sang không gian “động” và “mở”, có khả năng thích ứng linh hoạt trước biến động của thực tiễn. Trong đó, phát triển không gian đa tầng, bao gồm không gian ngầm, mặt đất và trên cao, là một nội dung quan trọng, góp phần tổ chức lại cấu trúc đô thị theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Đặc biệt, trong bối cảnh Quy hoạch tổng thể Thủ đô với tầm nhìn 100 năm xác định rõ định hướng “khai thác không gian đa tầng”, trong đó không gian ngầm dự kiến chiếm hơn 40% khu vực lõi đô thị, các công trình như bể điều tiết chợ Hàng Da hay cầu Đuống không còn là giải pháp đơn lẻ mà trở thành một phần của chiến lược tổ chức lại không gian đô thị theo chiều dọc.
Hướng phát triển này gắn liền với các mốc mục tiêu: đến năm 2035 Hà Nội trở thành đô thị “Văn hiến-Văn minh-Hiện đại-Hạnh phúc”; đến năm 2045 hội tụ tri thức và công nghệ toàn cầu; và đến năm 2065 đạt trình độ phát triển con người cao. Điều đó đòi hỏi hệ thống hạ tầng phải có tầm nhìn dài hạn, khả năng thích ứng cao và vận hành ổn định trong nhiều thập kỷ.
Mô hình phát triển đô thị cấu trúc đa tầng đa lớp. (Ảnh: Viện Quy hoạch Quốc gia)
Mô hình phát triển đô thị cấu trúc đa tầng đa lớp. (Ảnh: Viện Quy hoạch Quốc gia)
Từ góc nhìn này, với bề dày kinh nghiệm trong vai trò chuyên gia về quy hoạch đô thị quốc gia, Tiến sĩ Đỗ Xuân Đức cũng nhấn mạnh rằng, cần thay đổi cách tiếp cận: Không chỉ coi nước mưa là “gánh nặng cần thoát đi”, mà phải xem đó là một nguồn tài nguyên quý giá cần được quản lý, lưu trữ và tái sử dụng hợp lý.
Các bể điều tiết ngầm, vì vậy, không nên chỉ dừng ở chức năng chống ngập cục bộ, mà cần được tích hợp vào một chiến lược quản lý nước tổng thể, bao gồm thu gom, tái sử dụng và kết nối với các dòng chảy tự nhiên như sông, hồ.
Thi công bể điều tiết ngầm tại khu vực Hàng Da. (Ảnh: Hồng Quân)
Thi công bể điều tiết ngầm tại khu vực Hàng Da. (Ảnh: Hồng Quân)
Điều này cũng đặt ra yêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng sinh thái. Thực tế cũng cho thấy hiệu quả của các hệ thống ngầm như tại Tokyo không chỉ đến từ quy mô công trình, mà còn nằm ở sự đồng bộ của toàn bộ hệ thống thoát nước và ý thức quản lý đô thị, đặc biệt là vấn đề rác thải.
Trong khi đó, tại Hà Nội, một trong những “điểm nghẽn” lớn nhất lại nằm ở chính các tuyến cống dẫn, nơi thường xuyên bị bùn đất và rác thải gây tắc nghẽn. Nếu dòng chảy không được khơi thông, thì ngay cả khi có thêm các bể chứa lớn, nguy cơ ngập úng vẫn khó được giải quyết triệt để.
Đặt trong tầm nhìn quy hoạch dài hạn, những bể điều tiết quy mô nhỏ như khu vực chợ Hàng Da hoặc dốc cầu Đuống hoàn toàn có thể trở thành các “vệ tinh” trong mạng lưới liên hoàn, kết nối và hỗ trợ cho “siêu bể ngầm” trong tương lai.
Ở góc độ thực thi, chuyên gia Nguyễn Đức Hùng cho rằng, để quy hoạch thực sự đi vào cuộc sống, yếu tố then chốt nằm ở thể chế và cơ chế triển khai. Thành phố cần xây dựng hệ thống pháp lý đặc thù, tăng cường phối hợp liên ngành, đồng thời công khai quy hoạch để người dân tham gia giám sát. Việc huy động nguồn lực xã hội và xử lý các xung đột trong quá trình triển khai cũng sẽ đóng vai trò quyết định đối với hiệu quả thực hiện quy hoạch trong dài hạn.
Bên cạnh đó, Tiến sĩ Đỗ Xuân Đức cũng lưu ý, với các công trình bể ngầm quy mô rất lớn, cần cân nhắc kỹ các yếu tố địa chất, nguy cơ sụt lún và chi phí vận hành lâu dài. Do đó, việc phát triển các bể điều tiết ngầm cần được đặt trong một chiến lược tổng thể và đồng bộ, từ cải tạo hệ thống cống hiện hữu, gia tăng diện tích thấm nước tự nhiên, đến quy hoạch không gian đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu. Bởi lẽ, một hệ thống hạ tầng bền vững không chỉ nằm ở hiệu quả của từng công trình riêng lẻ, mà ở khả năng liên kết, bổ trợ và tạo giá trị cho các hệ thống khác trong một chỉnh thể thống nhất.
Có thể thấy, từ một công trình chống ngập cấp bách, những bể điều tiết ngầm đang và sẽ trở thành một “mảnh ghép” nhỏ nhưng có ý nghĩa trong bức tranh tổng thể - nơi Hà Nội từng bước hiện thực hóa tầm nhìn phát triển 100 năm, hướng tới một đô thị bền vững, thông minh và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Ngày xuất bản: 4/2026
Tổ chức thực hiện: Hoàng Nhật-Hồng Vân
Nội dung: Lê Đức-Yến Phương
Thiết kế: Yến Phương-Huy Hoàng
Ảnh: Hồng Quân
