Tiếp theo là tóm tắt ý kiến lý giải của chúng tôi.
Trong dự thảo đã viết: "Tiếp tục đầu tư cho... các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc, các giá trị văn hóa nghệ thuật, ngôn ngữ, thuần phong mỹ tục của cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta". Chúng tôi hoàn toàn nhất trí và hoan nghênh ý kiến trên và hiểu rằng cộng đồng các dân tộc đã bao gồm cả các dân tộc thiểu số, hơn nữa cụm từ đó có ý nghĩa khẳng định tính thống nhất cao của các dân tộc nước ta. Tuy nhiên, cần có một câu riêng, để làm rõ vai trò của văn hóa các dân tộc thiểu số (VHDTTS), vì nhiều lý do:
1- Bản thân VHDTTS có những giá trị đặc sắc hiếm thấy
1.1. Văn hóa đạo đức:
Nhân dân DTTS, tùy mức độ khác nhau, nhưng đều sống trong một xã hội có tinh thần cộng đồng cao, một xã hội mà theo Elgels, nguyên lý sống là "Ðoàn kết, bình đẳng, tương trợ", không phải là "giành giật để sống", "cá lớn nuốt cá bé".
Trong nội bộ cộng đồng, một số dân tộc, như ở Trường Sơn - Tây Nguyên, chưa phân hóa giai cấp, chưa có áp bức bóc lột giai cấp. Mọi người thương yêu nhau, có thịt cùng ăn, có rượu cùng uống. Trong xã hội đó, không giúp đỡ người khó khăn, hờ hững trước hoạn nạn của cộng đồng là một tội lỗi, phải đưa ra xét xử (theo Luật tục).
Marx và Elgels đã từng nghiên cứu các xã hội nguyên sơ này và lấy đó là một mẫu mực, về một phương diện nào đấy, cho xã hội tương lai: "Dân chủ trong công việc quản lý, hữu ái trong xã hội, bình đẳng về quyền lợi, giáo dục phổ thông, tất cả những thứ đó sẽ thần thánh hóa giai đoạn cao sắp tới của xã hội, mà kinh nghiệm, lý trí và khoa học đang không ngừng vươn tới. Ðó sẽ là một sự hồi sinh - nhưng dưới một hình thức cao hơn - của tự do bình đẳng và hữu ái - của những thị tộc thời cổ".(1)
Chúng ta cần và nên nghiên cứu những nét đẹp về đạo đức, quan hệ xã hội của các dân tộc anh em, đặc biệt là ở Trường Sơn - Tây Nguyên để học tập trong sự nghiệp xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, theo định hướng XHCN.
2.1. Văn hóa nghệ thuật:
Văn hóa cồng chiêng, đã được công nhận di sản văn hóa thế giới. Sử thi, tập trung là sử thi Tây Nguyên, vừa đồ sộ về khối lượng, vừa có giá trị chất lượng cao, xứng đáng là một di sản văn hóa đặc sắc của Ðông - Nam Á và thế giới.
Ngoài ra, còn vô số giá trị văn hóa nghệ thuật ở các DTTS mà chúng ta chưa khai thác, phát huy hết mà cũng chưa sưu tầm được: trang phục Mông, Dao, Thái; tượng mồ Tây Nguyên; âm nhạc, ca, hát múa các dân tộc Chăm, Thái, Mông, Khmer, Tày, Nùng,...
3.1. Văn hóa pháp lý - luật tục:
Ðể duy trì đạo đức và quan hệ xã hội nói trên, các DTTS, từ lâu đời đã xây dựng một truyền thống văn hóa pháp lý, một nền văn hóa pháp lý có tính chất luật tục.
Cho đến nay, chúng ta đã sưu tầm được nhiều luật tục với nền văn hóa pháp lý tương ứng của nhiều tộc người khác nhau.
Toàn thể cộng đồng có tập quán tôn trọng luật tục, coi đó là do "ông bà xưa để lại". Sự tôn trọng này có tính tự nguyện cao. Cá nhân, gia đình, cho đến dòng họ và cả cộng đồng đều có trách nhiệm đối với hành vi của các thành viên. Họ có biện pháp, cơ chế để theo dõi, giúp đỡ, giúp đỡ có hiệu lực đối với người lầm lỗi.
Mục tiêu của việc xét xử người lầm lỗi không phải để tìm sự công bằng tuyệt đối cho hai bên, mà chủ yếu là đem lại sự hòa hợp cộng đồng. Ðây là mục tiêu lớn. Người ta sẵn sàng vì mục tiêu lớn mà thỏa mãn, điều hòa một số yêu cầu nhỏ thuộc về quyền lợi cá nhân.
Khi cộng đồng đã xét xử, cá nhân đã bày tỏ đồng tình thì không lật ngược trở lại. Kết thúc buổi xử có lễ cầm vòng, uống rượu thề: "Từ nay coi như lửa đã tắt, điếu thuốc đã tàn. Mọi điều xấu đã chấm dứt. Kẻ nào mà: cỏ tranh đã khô mà đòi tươi trở lại, rượu đã nhạt lại đòi ngọt trở lại, câu chuyện xong xuôi lại đòi lật lên phải xử theo tục lệ ông bà xưa.
2- Ý nghĩa, vai trò của VHDTTS
- VHDTTS biểu hiện sự phong phú, đa dạng và đặc sắc của văn hóa Việt Nam. Ðây là công lao, kết quả sáng tạo của hơn 50 dân tộc anh em, là sản phẩm tinh thần ra đời từ tình cảm tâm hồn của nhiều cộng đồng cư trú trong những hoàn cảnh thiên nhiên địa lý khác nhau. Về hoàn cảnh xã hội, VHDTTS đại diện cho các thời kỳ văn hóa: tiền giai cấp, phong kiến sơ kỳ và phong kiến phát triển.
Về hệ ngôn ngữ, VHDTTS đại diện cho các ngữ hệ: Austronesie, Austroasiatique, Tày - Thái,
Tạng - Miến, Mông - Dao,...
Về khu vực văn hóa, VHDTTS bao gồm cả văn hóa Ðông - Nam Á và văn hóa Bắc Á, lại chịu ảnh hưởng của văn hóa Nam Á.
Nếu có ai đó nhận định rằng: Văn hóa Việt Nam là cái bóng mờ nhạt của hai nền văn hóa lớn Trung Hoa và Ấn Ðộ, thì bức tranh trên đây sẽ trả lời họ.
- Do những ưu thế vừa nói trên, VHDTTS có tác dụng lớn trong việc bồi dưỡng giáo dục con người Việt Nam XHCN.
- Các hệ ngôn ngữ của DTTS nước ta, như đã kể trên, là hệ ngôn ngữ phổ biến ở các nước Ðông - Nam Á, gắn bó với các nền văn hóa của các quốc gia có ngôn ngữ tương ứng trong khu vực, vì vậy, VHDTTS nước ta có vai trò quan trọng trong việc giao lưu văn hóa, tăng cường tình hữu nghị và sự hiểu biết lẫn nhau, đặc biệt đối với các nước ASEAN.
3- Phương hướng, biện pháp bảo tồn và phát huy VHDTTS
Phương hướng cơ bản là nắm vững đặc điểm VHDTTS để sưu tầm, bảo tồn và phát huy. Tránh tình trạng gượng ép, áp đặt.
Do điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử xã hội khác nhau nên các DTTS có đặc điểm văn hóa riêng, khác với người Kinh và từng dân tộc cũng có nét riêng; khi tiếp thụ và phát huy văn hóa, cần hiểu biết sâu sắc để khỏi gây tác dụng xấu. Thí dụ: người Dao không thích mầu vàng, không nên cho mặc áo vàng lên sân khấu điệu múa Dao cho đồng bào xem; đồng bào Ba Na, Cơ Tu,... rất mong muốn có nhà rông, nhưng nhà rông của đồng bào là một kiến trúc thiêng, cũng như đình làng của người Việt. Do đó, bà con không dám lên nhà rông xây dựng để làm "nhà rông văn hóa", nhà rông "của cán bộ".
Tóm lại, chủ trương tiếp thu văn hóa truyền thống của các dân tộc để phát huy nó trong đời sống hiện đại là một chủ trương vô cùng sáng suốt. Chúng ta đã đạt được nhiều thành công theo phương hướng này. Nhưng cần tránh việc làm kiểu "gieo vừng ra ngô" như Bác Hồ đã dạy.
- Về các biện pháp, chú ý gắn liền sự chỉ đạo và nguồn lực của Nhà nước với ý kiến và nguồn lực của nhân dân, già làng.
Ðể tránh những sai lầm trên, một mặt không thể thiếu sự chỉ đạo của Nhà nước và sự đầu tư nhân lực, vật lực của chính quyền; mặt khác rất cần nghe ý kiến và huy động các nguồn lực trong đồng bào.
Có thể lấy chủ trương làm nhà rông ở miền núi Quảng Nam làm một kinh nghiệm tốt. Nhiều nơi cơ quan Nhà nước đầu tư xây dựng nhà rông tốn kém. Ở Bình Ðịnh dự trù 100 triệu đồng một nhà, mà lại chẳng may có thể dân không dám sử dụng. Trong lúc đó Quảng Nam dựa vào già làng và nhân dân kể cả "thiết kế", xây dựng, nguyên vật liệu,... chỉ mất năm triệu đồng và hai tấn gạo một nhà. Nhà do dân làm lấy, theo phong tục và nguyện vọng của dân, làm xong bà con vui sướng lên nhà, múa hát ăn mừng.
-----------------------
(1) K.Marx và F.Elgels: Toàn tập, tập 21, NXB Chính trị Quốc gia, tr.265.