Dạo ấy những con đường Hà Nội còn vắng vẻ, khi mùa thu về, trời se lạnh, lao xao lá rụng trên đường, hương thơm của hoa, của lá nhẹ tỏa bay. Nhớ câu thơ hay của Nguyễn Ðình Thi về Hà Nội:
"Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may"
Nhưng khung cảnh hồ Gươm cũng sớm thay đổi, không còn vẻ tĩnh lặng như vốn có mà dần bị cuốn theo những mạch đời sôi động. Hòa bình lập lại, đất nước chia cắt, hàng vạn con em miền nam trên đất bắc vẫn xem hồ Gươm là nơi gặp gỡ trong những ngày lễ, ngày chủ nhật. Gặp nhau chuyện trò, tâm sự chuyện vui buồn, rồi chiều lại trở về cơ quan ở những tỉnh lân cận. Khi Hiệp nghị Giơ-ne-vơ bị kẻ thù bội ước, mong ước trở về quê nam xa dần thì những cuộc gặp gỡ cũng thưa thớt hơn.
Hồ Gươm là môi trường thanh lịch của văn hóa Thủ đô. Hơn nửa thế kỷ qua, không có một hàng ăn nào nhô ra kinh doanh ở mặt phố. Hàng thịt bò khô nộm đu đủ lanh canh tiếng kéo chào hàng rất hấp dẫn với các cô gái, cũng phải nép vào góc phố nhỏ gần chợ Hàng Bè. Ðịa bàn hồ Gươm là đất thiêng của những di tích lịch sử: Ðền Ngọc Sơn, Bút Tháp, Di tích Quảng trường Ðông Kinh Nghĩa Thục, Hội Khai trí tiến đức, nhà Thủy Tạ, Vườn hoa trung tâm của thành phố, Nhà Kèn... đặc biệt, là mặt nước hồ xanh thẳm và rùa thiêng nghìn thuở. Tuy nhiên, chỉ có một món ăn thanh lịch được yêu thích đã in vào ký ức nhiều lớp người: Kem hồ Gươm. Trong truyện ngắn "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam, nỗi nhớ của những đứa trẻ ở một huyện nghèo về Hà Nội là quầng sáng đêm đêm và những cốc nước kem xanh đỏ kỷ niệm của một thời. Kem Bốn Mùa, kem hồ Gươm, kem Thủy Tạ... hấp dẫn, nhất là với những đôi trai gái đi dạo chơi quanh hồ. Tôi còn nhớ một bài hát không biết xuất xứ từ thời nào nhưng vẫn in dấu vết của văn hóa hồ Gươm. Người con trai chào mời:
"Mình ơi có đi Bờ Hồ
Cùng ta chén kem kẹo dừa
Xin mình đừng từ chối
Trong túi tôi có mười đồng xanh
Mình cứ đi mình nhé
Cô mình ao ước cái chi
Bướm vàng, giầy nhung bít tất
phin, ô đầm, giầy cườm"
Mười đồng xanh tiền Ðông Dương có thể mua được bốn tạ gạo, tính ra ngày nay khoảng một triệu rưỡi đồng, liệu có thể mua sắm cho người thân yêu. Trong yêu đương, mọi sự tính toán đều có thể không chính xác, đáng quý là cái tình người. Ðiều thi vị nhất của hồ Gươm là gương nước đẹp gắn với những câu chuyện tình. Dạo ấy, đời sống còn khó khăn, các gia đình chưa có nhiều những căn phòng riêng để tiếp khách, trò chuyện, nên trai gái thường tìm đến Vườn Bách Thảo, hồ Tây, hồ Gươm để tâm sự và tỏ tình. Mới chập tối ghế đã có người ngồi, chậm hơn là hết chỗ. Trong không khí tĩnh lặng và thanh lịch của cảnh vật, con người, những đôi trai gái tìm đến hồ Gươm để tỏ tình sẽ tạo thành những kỷ niệm khó quên. Một người bạn tôi tâm sự: "Chúng mình hẹn nhau đến nhà Thủy Tạ ăn kem, sau đó tản bộ dọc hồ Gươm. Ðêm mùa thu, sương xuống nhanh, chẳng mấy chốc mọi vật đã mờ ảo. Hơi sương quá lạnh, chúng mình ngồi xuống ghế đá trò chuyện vui vẻ mà thú vị. Suốt buổi chỉ dám cầm tay một lần mà không bị bỏ ra, như thế là thành công. Mái tóc em đã mát lạnh và thấm hơi sương, em bảo: "Khuya rồi anh ạ". Ðêm ấy, vầng trăng khuyết nhưng lại vo tròn hạnh phúc lứa đôi. Hồ Gươm cũng là nơi than thở lúc chia tay. Hồi ấy, thanh niên chưa mạnh dạn vượt ngưỡng gia đình như ngày nay. Một ông bố, bà mẹ phong kiến sẽ ngăn cách tình cảm lứa đôi và hồ Gươm cũng chứng kiến cảnh chia lìa chuyện ấy của một thời.
Hồ Gươm cũng không phải bao giờ cũng thơ mộng. Tôi nhớ ngày hè những năm chống Mỹ, thành phố mất điện, nắng gắt, mọi người tràn ra vỉa hè hứng gió, tìm đến gốc cây. Các hiệu giải khát lúc đó mà có đá sẽ treo ngay một biển to "Có đá" để thu hút khách qua đường. Khi chiếc xe cút kít chở hai ba cây đá về hiệu giải khát Hồng Vân ở bờ hồ thì trẻ con chạy theo lấy thanh sắt nhỏ đập cho vỡ một hai mảnh rồi cho thẳng vào mồm, phùng má lên mà ngậm, mà mút. Nắng như đổ lửa, chiếc xe buýt chạy tuyến Hà Nội - Hà Ðông vẫn đậu cạnh nhà Thủy Tạ chờ khách. Tôi vẫn đi xe vào trường. Xe vắng khách, mấy chị buôn hàng khô bán hết hàng lên xe nhấm nháp quà bánh. Một chị ca cẩm: "Từ sáng đến giờ chưa có gì cho vào bụng", nói rồi mua một chiếc bánh mì dùng tay xẻ dọc đôi và mua thêm một que kem cho vào giữa rồi ăn ngon lành. Chị lại nói một mình: "Kem toàn nước, chỉ được cái mát". Chung quanh hồ Gươm mang đậm không khí chiến tranh. Hố cá nhân cách nhau khoảng hai ba chục thước, giăng đầy lối đi và ở đầu các góc phố là những hầm to chứa được một hai chục người. Hồ Gươm vắng vẻ chờ ngày quây quần tụ hội. Ðây là các dịp Tết và khung cảnh mở hội của đêm giao thừa. Từ chập tối, người từ các ngả đổ về bờ hồ. Ðiện sáng, không khí tưng bừng, mọi người ăn mặc đẹp hơn, đi lại, chuyện trò, nhìn ngắm nhau vui vẻ. Tuy nhiên, không khí chiến tranh cũng ảnh hưởng ít nhiều trong tâm lý và khung cảnh của đêm giao thừa. Pháo các cỡ nổ nhiều, đặc biệt những loại pháo đùng kích cỡ to có thể gây nguy hiểm. Pháo thăng thiên từ các ngôi nhà bắn ngang làm nhiều người sợ hãi, pháo cối to lăn lăn trên đường. Một số thanh niên trèo lên cây bẻ hái cành lộc chuyện không may xảy ra, một cành cây bị gãy, người trèo ngã xuống đè lên cổ một người già ở một trường học. Ông già ngã vật xuống và ít ngày sau thì qua đời. Những chuyện lộn xộn ấy được khắc phục khi có lệnh cấm pháo và cuộc sống trở lại thanh bình.
Ðất nước thống nhất, hồ Gươm vẫn giữ được nhiều nét đẹp truyền thống. Cây ven hồ vẫn xanh tươi và nở hoa theo mùa, nhiều cây cổ thụ chứng kiến những đổi thay của hồ Gươm qua năm tháng. Tết đến, đêm giao thừa như thường lệ vẫn tràn đầy ánh sáng và niềm vui, không khí hồ Gươm như trong ngày hội, phải chăng nó đã trở thành phong tục đẹp của người dân Hà Nội tụ hợp nhau đón năm mới bên Hồ. Cụ Rùa lại thêm một tuổi, thương cụ Rùa dính lưỡi câu của kẻ săn mồi và may mà chỉ bị thương nhẹ. Thời buổi kinh tế thị trường không vị nể vật thiêng nào.
Nửa thế kỷ đã qua đi, từ ngày Thủ đô được giải phóng, thành phố được xây dựng với quy mô lớn mở về các phía với các tòa nhà cao tầng, những đại lộ rộng rãi, các nhà máy, công trường thi đua sản xuất, hồ Gươm vẫn như xưa, không bị biến dạng, ít đổi thay và có phần xưa cũ. Các tòa nhà ven hồ vẫn giữ độ cao khiêm tốn và có vẻ đẹp bình dị để không phá vỡ khung cảnh chung. Ðến với hồ Gươm là đến với những giá trị truyền thống, với thế giới tâm linh được giữ gìn và tôn trọng từ lâu đời. Nhưng phải chăng, khung cảnh hồ Gươm sẽ phải hiện đại hơn, làm sao kết hợp được bản sắc dân tộc đậm đà với yếu tố hiện đại của thời đại. Hồ Gươm phải lộng lẫy, hấp dẫn hơn, tránh phô bày những sinh hoạt kém văn hóa đời thường và cần tăng cường những nguyên tắc bảo vệ môi trường. Những kiến trúc sư, những họa sĩ tài năng, các nhà hảo tâm phải góp phần xứng đáng để bảo vệ và tô điểm cho hồ Gươm - di sản văn hóa thiêng liêng và vẻ đẹp của Thủ đô Hà Nội.