Nông nghiệp Cần Thơ chủ động ứng phó xâm nhập mặn

Trước dự báo xâm nhập mặn có xu hướng gia tăng vào cuối tháng 3/2026, ngành nông nghiệp thành phố Cần Thơ đang khẩn trương triển khai nhiều giải pháp nhằm bảo vệ sản xuất nông nghiệp và ổn định đời sống người dân.

Ngành nông nghiệp Cần Thơ đưa ra nhiều khuyến cáo kỹ thuật đối với từng nhóm cây trồng.
Ngành nông nghiệp Cần Thơ đưa ra nhiều khuyến cáo kỹ thuật đối với từng nhóm cây trồng.

Theo Đài Khí tượng Thủy văn thành phố Cần Thơ, trong mùa khô năm 2026, khu vực này có khả năng chịu ảnh hưởng rõ rệt của xâm nhập mặn do tác động của triều biển Đông. Hiện tượng này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến các tuyến sông chính như: Sông Hậu, sông Mỹ Thanh và kênh Quản Lộ-Phụng Hiệp. Các chuyên gia dự báo, độ mặn trong năm nay có thể đạt mức tương đương hoặc cao hơn trung bình nhiều năm, với đỉnh điểm xâm nhập mặn dự kiến rơi vào cuối tháng 3/2026, trùng với các kỳ triều cường lớn.

Trên sông Hậu, ranh mặn 4‰ được dự báo có thể xâm nhập sâu từ 45-55km tính từ cửa sông, lan tới khu vực An Lạc Tây. Trong khi đó, ranh mặn 2‰ có khả năng tiến sâu tới khoảng 62-65 km, đến khu vực Vàm Cái Côn. Mức độ xâm nhập này có nguy cơ tác động trực tiếp đến nhiều vùng sản xuất nông nghiệp quan trọng như: Trần Đề, Lịch Hội Thượng, Long Phú, Đại Ngãi, Kế Sách và Cù Lao Dung. Đối với tuyến kênh Quản Lộ-Phụng Hiệp, độ mặn được dự báo dao động từ 1,5-2,5‰ và có thể xâm nhập sâu đến kênh Mang Cá và trạm thủy văn Phụng Hiệp thuộc phường Ngã Bảy. Đây là những khu vực có diện tích sản xuất nông nghiệp lớn, vì vậy nguy cơ thiếu nước ngọt phục vụ sản xuất và sinh hoạt đang được các địa phương quan tâm.

Những năm gần đây, vào cao điểm mùa khô, Cù Lao Dung thường xuyên đối mặt với tình trạng thiếu hụt nước ngọt nghiêm trọng. Theo ông Nguyễn Văn Đắc, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Cù Lao Dung, kết quả quan trắc cho thấy, có thời điểm độ mặn trên địa bàn vượt ngưỡng 4‰, khiến mặn xâm nhập gần như bao trùm toàn xã. Tình trạng này gây áp lực lớn đối với hơn 9.000 ha đất sản xuất nông nghiệp, nhất là các vùng trồng cây ăn trái tập trung, nguồn sinh kế chính của hàng nghìn hộ dân.

Trước thực tế đó, địa phương đã chủ động điều chỉnh lịch thời vụ, cơ cấu lại cây trồng nhằm giảm nhu cầu sử dụng nước trong thời điểm hạn mặn gay gắt. Hiện phần lớn diện tích mía trên địa bàn đang bước vào giai đoạn thu hoạch cho nên không còn nhu cầu tưới. Các loại cây ăn trái chủ lực cũng chủ yếu ở giai đoạn nuôi dưỡng thân, cành, lá và chờ đầu mùa mưa mới xử lý ra hoa. Nhờ vậy, nhu cầu nước tưới trong mùa khô được tiết giảm đáng kể, góp phần giảm áp lực lên nguồn nước ngọt.

Tuy nhiên, về lâu dài, việc chỉ dựa vào điều chỉnh thời vụ là chưa đủ. Nhận thức rõ điều này, nhiều nông dân tại Cù Lao Dung đã chủ động thay đổi tư duy sản xuất, mạnh dạn đầu tư hạ tầng trữ nước và áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào canh tác. Gắn bó nhiều năm với vùng đất thường xuyên chịu ảnh hưởng của hạn mặn, ông Trần Văn Phục sớm nhận ra rằng nước ngọt chính là yếu tố quyết định sự bền vững của vườn cây. Từ thực tiễn sản xuất, ông dành nhiều năm nghiên cứu và lai tạo thành công giống mận hồng Sân Tiên có khả năng chịu mặn lên đến 10‰, mức khá cao đối với cây ăn trái. Đi đôi với việc lựa chọn giống phù hợp, ông Phục còn chú trọng đầu tư hệ thống tưới tiêu hiện đại. Từ mùa khô 2015-2016, ông đã chuyển từ phương thức tưới truyền thống sang hệ thống tưới tự động hoàn toàn, kết hợp tưới nước và bón phân cùng lúc.

Hệ thống được lắp đặt ngầm dưới mặt đất khoảng 2 cm, giúp hạn chế tối đa thất thoát nước và phân bón do bốc hơi hoặc chảy tràn. Trước diễn biến ngày càng phức tạp của xâm nhập mặn, ông tiếp tục đầu tư hệ thống trữ nước ngọt quy mô lớn. Trên diện tích 40 ha vườn cây, ông triển khai đào bốn hồ chứa, gồm một hồ lớn và ba hồ nhỏ, với tổng diện tích mặt nước khoảng 40.000 m². Nguồn nước được lấy từ sông Hậu vào thời điểm độ mặn thấp, kết hợp tích trữ nước mưa trong mùa mưa. Khi bước vào mùa khô, toàn bộ hệ thống được vận hành khép kín, bảo đảm đủ nước tưới cho vườn cây trong nhiều tháng.

Ở cấp quản lý, ngành nông nghiệp thành phố Cần Thơ cũng chủ động xây dựng phương án ứng phó với hạn hán và xâm nhập mặn. Bà Nguyễn Thị Giang, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố cho biết: “Đơn vị đã ban hành văn bản chỉ đạo các địa phương triển khai đồng bộ các giải pháp phòng, chống hạn mặn trong mùa khô năm 2026. Mục tiêu là bảo vệ sản xuất nông nghiệp; đồng thời, bảo đảm nguồn nước phục vụ sinh hoạt của người dân trước những diễn biến khó lường của thời tiết”.

Đối với lúa và rau màu, nông dân được khuyến cáo không xuống giống vụ đông xuân muộn tại các khu vực phụ thuộc nguồn nước tự nhiên như Mỹ Xuyên, Long Phú hay Trần Đề. Việc gieo trồng chỉ nên thực hiện khi nguồn nước tưới nội đồng được bảo đảm. Đồng thời, cần áp dụng các phương pháp tưới tiết kiệm, nhất là kỹ thuật tưới ngập xen kẽ khô nhằm giảm lượng nước sử dụng. Đối với cây ăn trái, nhiều loại có khả năng chịu mặn rất thấp như là sầu riêng, chôm chôm và măng cụt. Vì vậy, người dân cần kiểm tra kỹ độ mặn trước khi lấy nước vào vườn. Ngành nông nghiệp khuyến cáo không sử dụng nước có độ mặn trên 1‰ để tưới; riêng với các loại cây nhạy cảm với mặn, ngưỡng cho phép chỉ khoảng 0,5‰.

Song song với các giải pháp kỹ thuật, công tác theo dõi diễn biến nguồn nước và độ mặn cũng được tăng cường. Các địa phương được yêu cầu thường xuyên quan trắc, cập nhật thông tin và kịp thời thông báo đến người dân thông qua các phương tiện truyền thông và mạng xã hội. Về giải pháp công trình, các đơn vị quản lý thủy lợi được yêu cầu vận hành hiệu quả hệ thống cống nhằm tích trữ nước ngọt khi điều kiện cho phép, đồng thời khẩn trương duy tu, sửa chữa các công trình xuống cấp. Những dự án phòng, chống hạn mặn đang thi công cũng được thúc đẩy tiến độ để sớm đưa vào khai thác.

Theo các chuyên gia, đợt xâm nhập mặn lớn nhất trong mùa khô 2025-2026 tại Đồng bằng sông Cửu Long có khả năng xuất hiện vào cuối tháng 3/2026. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng còn phụ thuộc vào dòng chảy từ thượng nguồn và chế độ vận hành các hồ chứa. Vì vậy, các địa phương ven biển và khu vực cửa sông cần tiếp tục theo dõi sát diễn biến nguồn nước để chủ động phương án ứng phó; việc quản lý nguồn nước cần được thực hiện theo hướng liên kết vùng. Thành phố Cần Thơ cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu môi trường dùng chung cho các địa phương dọc sông Hậu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên nước và bảo đảm an ninh nguồn nước cho toàn vùng hạ lưu.

Có thể bạn quan tâm