Trong một chiều nắng xiên, đàn ngựa tung vó băng mình ven đồng cỏ, tạo nên những đám bụi mù mịt ở vùng đồi Bá Vân. Núi thắm đẹp kỳ ảo xa xa, đường đồi dốc “cong vênh” khiến cho góc nhìn của lữ khách càng thêm mê mải. Cảnh ấy diễn ra đã nhiều năm ở xã Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên; ít ai ngờ, chỉ cách bờ hồ Hoàn Kiếm của Thủ đô hơn 60km.
Tôi muốn kể về Trại ngựa Bá Vân với những đóng góp thầm lặng của các thế hệ cán bộ nơi đây, giúp phát triển đàn ngựa quý, phục vụ đa mục đích cho sự phát triển của nước nhà trong suốt hơn 60 năm qua.
Vượt ngàn gian khó
Ra đời từ tháng 4/1960, Trại nhân giống ngựa Bá Vân (nay là Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền núi, thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã khéo léo chọn lựa một vùng gò đồi, sông nước lãng mạn để tọa lạc.
Hồi đầu, 8 con ngựa tuyệt đẹp Kabadin của Liên Xô được nhập về từ năm 1964, vừa để bảo tồn nguồn gien quý, vừa lai tạo cho ra giống ngựa phù hợp với nhu cầu trong nước. Hàng loạt giống ngựa quý ra đời từ trung tâm này, như “ngựa lai ba máu”, tức là chúng có dòng máu ngựa Kabadin quý giá, “phối hợp” với ngựa đua châu Âu rồi ngựa bản địa Việt Nam. Kết quả là cho ra đời giống ngựa phù hợp từ vóc dáng, sức khỏe, tới sự “thiện chiến”, cùng khả năng thích nghi với khí hậu miền núi Việt Nam.
Sau hơn 60 năm phát triển, Trung tâm đã có nhiều cống hiến, giúp phát huy giá trị nhiều mặt của các giống ngựa quý. Ngựa quý giống nước ngoài nhập về đều được chăm sóc kỹ lưỡng. Rồi chúng sinh sôi, phát triển, được lai tạo cho phù hợp điều kiện Việt Nam, phục vụ bảo vệ và xây dựng đất nước. Trung tâm đã cung cấp ngựa cho lực lượng biên phòng làm nhiệm vụ nơi biên cương. Ngựa từ nơi này cũng “ra quân” phục vụ các nghi lễ (diễu binh, diễu hành, các ngày hội văn hóa thể thao). Trung tâm cũng là nơi lai tạo và cung cấp các giống ngựa phục vụ phát triển kinh tế. Họ nghiên cứu phát triển các giống ngựa phù hợp đặc thù miền núi, rồi đi tận các xã để chuyển giao kỹ thuật, nhằm phục vụ nhu cầu dùng ngựa kéo cày, kéo xe, thồ hàng, cưỡi ngựa…
Đặc biệt, năm 2020, đất nước Mông Cổ tặng đàn ngựa hơn 100 con cho Đoàn Cảnh sát cơ động kỵ binh của Việt Nam, Bộ Công an đã quyết định chọn khu vực Đồi Bá Vân của Trung tâm làm trụ sở, với sự tư vấn hỗ trợ của “chuyên gia ngựa” nơi đây.
Giám đốc Trung tâm Nguyễn Văn Đại chia sẻ: các thế hệ cán bộ đã chăm sóc, lưu giữ, bảo tồn nguồn gen các loài ngựa, nhân giống, lai tạo chúng, phục vụ “đúng và trúng” các nhu cầu hữu ích của cuộc sống. Ví như với ngựa thịt, thì cần khỏe, dễ nhân giống, cho nhiều thịt, chất lượng thịt tốt; ngựa phục vụ thồ, kéo, cưỡi cũng cần vóc dáng thon gọn khi luồn rừng vượt núi, với sức bền đáp ứng được yêu cầu thực tế. Với ngựa đua hay ngựa diễu binh diễu hành, phục vụ lễ hội, du lịch thì cần to, khỏe, chạy nhanh, nhấn mạnh nhiều hơn về hình thức.
Thời chiến tranh, có khi chuồng trại, nhà xưởng phải sơ tán vào các khu vực rừng sâu cách trại trung tâm hàng chục cây số. Ngày ngày đối mặt với bao vất vả, phải làm việc trong các lều lán tre nứa, các cán bộ trại ngựa vẫn đi khắp các điểm sơ tán, các khu vực cần chuyển giao kỹ thuật để rồi nghiên cứu, chọn lọc, nhập ngựa, lai tạo ngựa. Từ đó, hàng trăm loại “ngựa giống mới hạt nhân” của Trung tâm đã được chuyển giao, sinh sản ra hàng vạn cá thể ngựa lai phục vụ cuộc sống đồng bào các tỉnh trung du phía bắc và nhiệm vụ an ninh-quốc phòng.
Ông Đặng Đình Hanh, nguyên Giám đốc Trung tâm đã mô tả các “kỳ tích thời gian khó” với niềm cảm khái rưng rưng. Rằng, vào những năm 70-80 của thế kỷ trước, ông và đồng nghiệp đã đem lại các giá trị “cất cánh” cho đàn ngựa Việt Nam trong bối cảnh: “Cả tuần ăn hạt bo bo/Cả năm gạo hẩm bò vàng vẫn vui”, ông Hanh “lẩy thơ” để hồi tưởng. “Có khi, người lao động nhiều tháng chưa có lương, họ nhận “phụ cấp” bằng bột mì, hạt bo bo, phân đạm, thức ăn gia súc”. Đến mức, GS, TS Nguyễn Ngọc Kính, bấy giờ là Vụ trưởng ở Bộ Nông nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) lên thăm, nhìn cơ sở vật chất quá nghèo nàn, thốt lên: “Có tới Bá Vân mới thấy anh chị em vất vả, gian khổ và cực nhọc thế nào”, rồi lặng đi hồi lâu. Sau này, khấm khá hơn rồi, nhưng PGS, TS Nguyễn Đăng Vang - khi ấy là Viện trưởng Chăn nuôi lên thăm “Trại ngựa” vẫn phải rút khăn mùi xoa rớm nước mắt thương anh em. Xe của ông bị sa lầy, chính ông và đoàn phải đẩy xe rất vất vả, ống quần của một cán bộ “phụ trách đoàn” còn bị rách toạc do đẩy xe.
Liên tiếp cho “ra lò” các giống ngựa quý
Giai đoạn “sinh tử”, cấp trên muốn sáp nhập, giảm biên chế, đưa Trại ngựa Bá Vân nhập với Trại bò ở Ba Vì. Làm sao bây giờ? Ông Hanh kể các cán bộ đã tổ chức nhiều cuộc họp bàn thảo tâm huyết. Họ phải mở lối phát huy giá trị hơn nữa cho đàn ngựa. Ông Hanh và cộng sự làm việc với Đại tá, bác sĩ Phan Ngọc Minh, bấy giờ là một Chủ nhiệm Khoa ở Bệnh viện Quân y 103. Từ đó, việc cung cấp huyết thanh ngựa chửa đã mang lại lợi ích lớn cho xã hội. Ông Nguyễn Công Tạn, Bộ trưởng Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm khi ấy, đã đánh giá cao vai trò đặc biệt của nguồn huyết thanh ngựa chửa đối với cả ngành chăn nuôi công nghiệp Việt Nam, khiến ông Hanh và các thế hệ cán bộ nơi đây vẫn mãi tự hào. Từ “công trình lớn” này, Đại tá Phan Ngọc Minh đã được tặng Huân chương Lao động hạng ba và Trung tâm cũng được vinh danh xứng tầm.
Nhiều đề tài, dự án quan trọng về ngựa và việc phát huy vai trò của chúng trong đời sống đã được bà con đón nhận bởi ứng dụng hiệu quả trong thực tiễn. “Hình ảnh đoàn ngựa thể thao từ Trung tâm đã có mặt ở Hà Nội biểu diễn, được sự tán thưởng nhiệt thành của công chúng. Sau này, những chú ngựa thể thao ấy được Liên đoàn Xiếc Việt Nam đưa đi biểu diễn ở nhiều nơi trong và ngoài nước”, ông Hanh nhớ lại.
Tiếp nối truyền thống ấy, giờ đây, tại “Trại ngựa Bá Vân” có những chuyên gia suốt bao năm vẫn ngày đêm làm bạn với các cô chú ngựa. Phó Giám đốc Trung tâm, anh Tạ Văn Cần đưa chúng tôi đến gặp chị Nguyễn Thị Lan, Trưởng trạm Nghiên cứu chăn nuôi gia súc ăn cỏ và anh Lê Quốc Đạt, kỹ thuật viên chăm sóc ngựa. Anh Cần tự hào khoe: “Đàn ngựa đủ màu, to nhỏ đang thung thăng gặm cỏ kia, nhà báo chỉ vào bất kỳ con nào, Đạt đều nhớ tên và gọi chúng ngoan ngoãn chạy về ngay”.
Nghe tiếng Đạt gọi, từng cá thể ngựa mau chóng chạy về. Các cái tên nghe có vẻ rất “khó hiểu”, như Cao Tinh, Sao Chổi, Bạch Tình, Bạch Lăng, Bạch Tư, châu Á, châu Phi đều được đặt theo quy tắc thú vị. Thí dụ: Các thông tin con nào là ngựa bạch, con nào lai giữa “bố” (ngựa đực) giống gì và “mẹ” (ngựa cái) đến từ nước nào, đều được thể hiện “vắn tắt” trong tên gọi. “Điều này thay cho cách đánh số với từng con ngựa trước đây, khó hiểu và dễ nhầm lẫn”, Đạt hào hứng khoe.
Chăm sóc, cho sinh sản, phát triển đàn ngựa lắm nỗi nhọc nhằn. Theo anh Cần, ngựa đực nhập ngoại có đặc điểm sinh học và tập tính sinh sản khác biệt so với ngựa cái bản địa. Khi vào chu kỳ, ngựa cái rụng trứng theo từng khoảng thời gian ngắn, buộc cán bộ kỹ thuật phải túc trực cả ngày lẫn đêm để quan sát các dấu hiệu sinh lý và xác định thời điểm thụ tinh phù hợp. Với những giống ngựa quý, việc theo dõi càng được thực hiện tỉ mỉ nhằm bảo đảm an toàn và hiệu quả nhân giống. Chị Lan cho biết, ngựa đực có thời gian động dục kéo dài nhiều ngày, đòi hỏi kỹ thuật viên phải theo dõi chặt chẽ quá trình sinh sản, bởi chỉ một sai sót nhỏ cũng có thể gây rủi ro cho ngựa cái.
Xuất một lứa ngựa trưởng thành đi, thì có nghĩa là Đạt trải qua 11 tháng gắn bó với ngựa mẹ ngựa con trong lứa đó, 6 tháng ngựa con sống bên mẹ trước cai sữa. Đạt và cán bộ nơi đây chăm nom chu đáo tới mức, “ngựa con quấn quýt, sáp tới gần em luôn, nên nhìn chúng trưởng thành là em vui lắm, mình lưu giữ biết bao kỷ niệm gắn bó”. Có lẽ, hơn ai hết Lan và Đạt đều hiểu, một chú ngựa quý được lai tạo, chăm sóc ở đây, không chỉ là chuyện về một cá thể ngựa đơn lẻ được chăm bẵm. Mà quan trọng hơn, chúng còn là khởi đầu cho cả một “loài tiên phong”, một “thế hệ” ngựa sẽ “ra lò” đáp ứng nhu cầu của đời sống.
Với sức khỏe và nhiều tập tính đáng yêu, việc chăm sóc ngựa cũng không ít thú vị, khiến anh chị em say mê. Ngựa được chăm sóc bằng cỏ tươi, cỏ khô, có khi cả thóc nảy mầm và trứng gà, để bảo đảm sức khỏe, nhất là trong mùa sinh sản. Giống ngựa quý, như ngựa bạch, cho giá trị kinh tế cao, với đặc trưng là tất cả các lỗ tự nhiên trên cơ thể (như mắt, miệng, khu vực tiêu hóa…) đều mầu hồng, đã được nghiên cứu, bảo tồn gien, nhân nuôi phát triển kinh tế từ hơn hai chục năm trước. Nuôi ngựa vừa dễ, vì đây là loài được con người thuần hóa đã hàng nghìn năm trước, chúng có trí nhớ và tập tính tốt, bảo gì cũng biết nghe, ăn ngủ ở đâu là luôn nhớ nằm lòng. Bộ móng của loài ngựa vốn có “truyền thống” dũng mãnh xung trận và chinh phục địa hình, nên khỏi lo mắc “lở mồm, long móng” như trâu bò.
“Trại ngựa Bá Vân” với nhiều “kỷ lục Việt Nam” rất ấn tượng: Nơi lưu giữ nhiều nguồn gien ngựa quý nhất; nơi chăm sóc, nghiên cứu về loài ngựa sớm nhất kể từ sau Cách mạng Tháng Tám; nơi lai tạo nhiều giống ngựa phục vụ đắc lực nhất cho an ninh, quốc phòng và đời sống dân sinh. Và bây giờ, trong một góc nhìn nhân văn và rộng mở hơn nữa: Nơi này là một thảo nguyên xinh đẹp đón khách muôn phương, đặc biệt là các đoàn giáo viên và học sinh tới thưởng thức, trải nghiệm vẻ đẹp hoang sơ, với núi rừng và từng đàn tuấn mã oai phong thung thăng hoặc phi nước kiệu.
Tết năm con ngựa 2026, chúng ta cùng nói lời tri ân với các thế hệ cán bộ “Trại ngựa Bá Vân”, những người đã lặng thầm, tận hiến, để các loài tuấn mã uy phong có thể đem lại nhiều giá trị hữu ích hơn nữa cho cả cộng đồng.