Bây giờ thì làng báo nước ta đã vô cùng đông đảo. Mấy trăm tờ báo và tạp chí. Hàng nghìn nhà báo kế tiếp nhau, già trẻ, gái trai. Nhà báo bây giờ viết bài trên máy vi tính, chỉ cần nhấp chuột là có thể biết được mọi thông tin mới nhất về kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học-kỹ thuật.
Quá sướng... Quá tiện lợi. Ði đâu xa đã có ô-tô, tàu hỏa, máy bay. Xe con về tận trung tâm các xã vùng cao. Ðiện thoại di động đã nối mạng đến tận các vùng hải đảo xa xôi. Còn những ai đã làm nghề báo ở báo Nhân Dân cách đây 20 năm, 30 năm, 40 năm về trước, đi công tác xa bảy, tám chục cây số là đạp xe, đi xa hơn là phải dậy từ sớm tinh mơ ra bến xe xếp hàng mua vé, vé người, vé xe đạp.
Viết bút máy Ba Vì, Hồng Hà. Người sang, người trên, mới có chiếc Kim Tinh mầu vàng chóe. Bút bi hết mực, thì mang một lúc vài ba cái ruột bút tới phố Nguyễn Thái Học để bơm. Trời nồm, mực nhoe nhoét ra tay, ra giấy. Nói vậy để thấy rằng cùng với "làng nghề" cả nước, cả thế giới, cánh nhà báo chúng ta giờ đây cũng tiến bộ rất nhanh cả về nghiệp vụ cũng như phương tiện hành nghề.
Ai đó thấy thời gian trôi qua thật chậm chạp, thật lâu, chứ với tôi thời gian 40 năm làm ở báo Nhân Dân như mới chớp mắt. Phải, mới đó mà đã vèo qua gần một đời người, cả một đời nghề. Lắm lúc vẫn còn ngẩn ngơ nghĩ hình như mình tới nhầm chỗ làm việc, hình như cái nghề làm báo chưa hẳn là nghề của mình. Viết lách vẫn chưa đâu vào đâu, nhiều lúc như đuối sức, như hụt hơi, nhất là lúc thế giới xảy ra bao biến động lớn đòi hỏi tầm tư duy và sức viết dài hơi.
Nghề dạy nghề. Nghề rèn nghề. Nghề nào thì cũng phải vật lộn với thực tế khách quan và cả thực tế thị trường, nhưng xem ra nghề viết lách - nghề báo, nghề văn - gay gắt quá. Bao người có lúc lóe sáng như một ngôi sao băng rồi sau đó vụt tắt chẳng để lại bài viết thật sự lắng đọng nào trong lòng bạn đọc. Có người tâm sự: Thành nghề, có nghề là nhờ trời cho chừng một vài phần trăm, còn 90% là nhờ khổ luyện, nhờ tự học, nhờ chăm chỉ cày sâu, cuốc bẫm trên thửa ruộng thực tế, đi nhiều, ghi chép liên tục và không cho bộ óc được lười nhác. Và cũng có phần gặp thời, gặp thầy giỏi, và có mảnh đất tốt tươi để gieo trồng, gặt hái.
Từ báo Nhân Dân, hay nói như ai đã từng một thời làm việc ở trụ sở này, là dưới gốc đa Hàng Trống, bao nhà báo, nhà văn, nhà thơ đã thành danh, đã được tạo thêm sức gió, thêm lực đẩy, để vươn cao hơn, vươn xa hơn. "Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay", nhớ lại cái thuở "cày cuốc" suốt đêm ngày, hết tin lại bài, miệt mài bên trang sách, bản tin mà cuộc sống vẫn thiếu thốn đủ bề, giỏi lắm quanh năm cũng chỉ lo nổi ba bữa cơm no.
Chả phải chỉ mình tôi, mà vào cuối những năm 60 của thế kỷ trước, rất nhiều anh chị em, học đủ chuyên ngành khác nhau, nhiều trường khác nhau, đầu quân vào đội quân chinh chiến ở 71 Hàng Trống, bị ngợp. Tòa soạn thật rộng, thật thâm nghiêm, như ngôi đền thiêng của giới cầm bút.
Ngoài vài người học Khoa Ngữ văn Ðại học Tổng hợp, Ðại học Sư phạm ra, hầu hết đều chưa biết thế nào là văn chương, báo chí, chưa hề một giờ ngồi nghe giảng về cách lấy tin, viết bài. Dân ÐH Bách khoa, Nông nghiệp, Kinh tế quốc dân cả. Mà nhìn quanh mình, quanh phòng làm việc của mình, toàn các "cây bút lớn", nào Nguyễn Thành Lê, Thép Mới, Phan Quang, Quang Ðạm, Lê Ðiền, Hà Hoa, Lê Dân, Quang Thái, Nguyễn Hữu Chỉnh, Trần Kiên, Hữu Thọ, Diệu Bình. Các ngòi bút chính luận, bình luận các vấn đề trong nước và quốc tế. Rồi các cây phóng sự, tùy bút Minh Tân, Ðào Năng An, Chính Yên, Trần Ðĩnh, Văn Sơn, Gia Ninh, Trung Dũng, "các cây đa cây đề" cả. Anh Vũ, Trần Nguyên không chỉ là các tay bút phóng sự, điều tra mà còn là các dịch giả quen thuộc về văn học cổ điển Pháp. Tập Ký sự miền đất lửa của anh Nguyễn Sinh không chỉ còn là những bài báo thời sự mà đã để lại dấu ấn khó phai ghi lại một thời xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước của dân tộc. Nói đến Phan Quang, lại nhớ tới các tập ký sự "Chinh phục Himalaya", "Một mình giữa đại dương", "Thơ thẩn Paris", "Bên mộ vua Tần", dịch giả của "Nghìn lẻ một đêm".
Vốn kiến thức sâu, rộng như vậy nên họ đều là bạn bè bằng vai phải lứa bàn luận về nghề, về chữ nghĩa với các bậc trưởng lão Nguyễn Tuân, Nguyễn Ðình Thi, Phạm Huy Thông, Văn Cao, Hoàng Cầm, Tô Hoài, Kim Lân, Huy Cận, Xuân Diệu, Phùng Quán, Chính Hữu. Mà các vị này thì thường xuyên cộng tác với báo Nhân Dân, có bài thơ, tùy bút, ký sự nào hay lại gửi tới báo Nhân Dân.
Lại phải nói thêm: Tin, bài đăng báo phải là, luôn luôn là người thật, việc thật, không thêm mắm thêm muối cho hấp dẫn. Cái sự hư cấu đó sớm muộn rồi cũng sẽ lòi ra khi những nhân vật, những cơ sở "điển hình" kiểu đó làm ăn thua lỗ, kém cỏi, giá thành cao hơn giá bán, khi các ông bầu không còn mặn mà, không còn đủ sức hà hơi tiếp sức cho những cái gọi là điển hình bao cấp nữa. Lúc đó, cả "nhân vật điển hình" và người cầm bút tán dương đều bị quy luật khách quan, bị bạn đọc bỏ rơi. Nhưng viết báo thì phải nhanh, rất nhanh để kịp thời sự, kịp nhu cầu tuyên truyền, do đó khâu tư liệu, kiểm tra tư liệu theo nhiều hướng khác nhau, là vô cùng quan trọng. Chả anh cầm bút nào dù tài danh đến mấy, dám bạo miệng nhận mình là "kho tư liệu" cả. Phải nhờ tới những người hiểu nhiều biết rộng, đọc nhiều, ghi chép cẩn thận.
Cái kho tư liệu uyên bác nói có sách, mách có chứng ở 71 Hàng Trống chả ai bằng bác Phan Ðăng Tài, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Nga đều thành thạo. Cần tra cứu những tư liệu quốc tế, cần tài liệu tham khảo những sự kiện xảy ra trong vài ba chục năm sau Chiến tranh thế giới thứ II phải nhờ tới những ghi chép của anh Phương Tần, một trí thức từng tham gia cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ.
Tôi đã viết được một số bài báo về Tây Ban Nha, về Bồ Ðào Nha, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ... là nhờ vào kho tư liệu phong phú của anh Tần. Báo Nhân Dân trở thành địa chỉ quen thuộc của các nhà văn, nhà báo, được trân trọng là nhờ công sức của các nhà báo chuyên nghiệp của tòa soạn và các cộng tác viên gắn bó của mình. Toàn những cây bút nổi tiếng cả, còn lũ trẻ bọn tôi lúc đó mới tập tọng, mới võ vẽ vào nghề. Tới nơi nào có các "cụ" là rón ra rón rén ngồi mép bàn, mép ghế chứ đâu dám lấc cấc. Tất nhiên như một thành ngữ có nói "ai chịu khó, chịu khổ hơn, người đó sẽ có tay nghề sớm hơn" nhưng đó là chuyện của chục năm sau, vài chục năm sau, chứ đâu có dễ dàng một sớm một chiều dù đeo mác "lâu năm" hay cử nhân, tiến sĩ.
Nghề nào thì cũng phải học hành nghiêm chỉnh nữa là cái nghề được coi là lắm chữ. "Vốn" chữ, vốn sống sinh động lại còn nghèo hơn cả bạn đọc thì dù có cày cả đời vẫn chỉ là anh viên chức viết báo. Nhưng cái nghề văn, nghề báo có cách học đến lạ, học trong lúc săn tin, trong lúc hóng héo, nghe lỏm về nghề, và học trong lúc viết. Ối anh "văn chương chữ nghĩa bề bề", nhưng nếu chỉ là kiến thức sách vở chưa kịp tiêu hóa, viết lách vẫn rất chật vật, nhàn nhạt, xa lạ với thực tế sôi động đang diễn ra. Thế nên chữ là của mình đấy nhưng cái hồn lại vay mượn, nên con chữ cứ khô không khốc khó vào mới chỉ sau dăm, bảy tháng, một vài năm, bài viết đã "thòi ra" cái đuôi "ăn theo nói lấy được" hoặc đi ngược lại quy luật khách quan.
Quanh gốc đa Hàng Trống, nhiều thế hệ cầm bút đã trưởng thành, đã để lại một phần đời, một phần sự nghiệp của đời mình. Nay người còn, người đã đi vào cõi hư vô. Tóc cũng đã bạc trắng cả. Từ trang báo, không ít người đã tìm ra một cách viết riêng phù hợp với tạng của mình. Chưa dám dễ dãi gọi đó là phong cách, nhưng rõ ràng là có bạn đọc, không dễ gì nhạt nhòa trong vô vàn bài viết hằng ngày, hằng giờ được viết ra, được phát trên sóng phát thanh, truyền hình và trên mạng. Có vậy, báo chí mới là một nghề được xã hội tôn trọng, xã hội cần đến và những người viết báo xứng đáng được coi là một nhà chép sử trung thực và dũng cảm của thời đại mà mình đang sống.
Nghề báo cũng cần thiết như mọi nghề, nhưng là một nghề của những ai có lòng tự trọng và yêu nghề. Và nếu con người mãi cần một cuộc sống tinh thần, một dòng văn thơ tươi trẻ, thì cũng rất cần những thông tin nhanh nhạy, những nhận định trung thực và kịp thời về mọi vấn đề của cuộc sống. Báo chí là một kênh chắt lọc những tinh túy của chất xám, của kiến thức muôn hình muôn trạng. Và ngôi nhà 71 Hàng Trống vẫn là nơi lui tới, tin cậy của nhiều người...