Vì thế, xác định đúng hệ động lực phát triển đất nước và tìm ra cách thức gia tăng sức mạnh của nó, là nhiệm vụ trọng yếu của mọi chặng đường cách mạng.
Là một nhà lập quốc vĩ đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có khát vọng lớn, tầm nhìn xa. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, trong bối cảnh “thù trong, giặc ngoài” và nền kinh tế kiệt quệ, Người vẫn có niềm tin về một ngày Việt Nam sẽ “sánh vai cùng các cường quốc năm châu”.
Để biến ý tưởng thành thực tiễn, Người đã đề ra một hệ động lực phát triển phong phú, toàn diện và tìm mọi cách phát huy sức mạnh của nó.
Với quan điểm “vô luận việc gì, đều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả”[2], Hồ Chí Minh khẳng định, động lực quan trọng nhất để phát triển đất nước chính là con người được hiểu trên hai bình diện là cá nhân và cộng đồng.
Muốn con người cá nhân trở thành động lực thì phải tác động vào nhu cầu, lợi ích chính đáng và phát huy quyền làm chủ, ý thức làm chủ của người dân. Đối với con người cộng đồng thì chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc, đoàn kết, sáng tạo chính là một động lực vô song giúp cho dân tộc Việt Nam đứng vững trước muôn vàn thử thách khốc liệt với tư thế người chiến thắng.
Động lực phát triển luôn tồn tại dưới dạng tiềm năng cho nên lực lượng lãnh đạo phải biết khai thác nó một cách chủ động, khoa học. Vì thế, Hồ Chí Minh rất đề cao động lực chính trị, bao gồm vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý nhà nước và tập hợp lực lượng của Mặt trận Dân tộc thống nhất, trong đó, sự lãnh đạo của Đảng đóng vai trò “hạt nhân”.
Do mọi hoạt động của xã hội đều dựa trên nền tảng kinh tế cho nên Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng việc phát huy động lực kinh tế. Người cho rằng muốn có tiềm lực kinh tế, đưa kinh tế trở thành động lực thì phải có phương thức quản lý khoa học, dân chủ, phải vận dụng các thành tựu của khoa học-kỹ thuật vào sản xuất và ra sức thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí.
Đúng đắn trong xác định, phát huy các động lực và kiên quyết đẩy lùi các trở lực như sự chống phá của lực lượng thù địch, các thói quen, truyền thống lạc hậu và chủ nghĩa cá nhân dưới mọi hình thức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn dắt dân tộc Việt nam đi đến các đỉnh cao chói lọi trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Là một nhà hoạt động quốc tế đầy trải nghiệm, Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của động lực quốc tế với sự hợp tác giữa các dân tộc, sự ủng hộ của nhân loại và thành tựu khoa học-kỹ thuật tiên tiến nhưng nội lực đóng vai trò quyết định và phát huy động lực bên ngoài là để nâng cao sức mạnh bên trong.
Thực hiện khát vọng phát triển của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dựa trên kết quả 40 năm Đổi mới và sự biến đổi nhanh chóng của tình hình thế giới, trong nước, Đảng Cộng sản Việt Nam khởi phát “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”.
Đó chính là kỷ nguyên phát triển bứt phá theo định hướng xã hội chủ nghĩa để đạt các mục tiêu hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc dưới lá cờ vẻ vang của Đảng.
“Dư địa” thời gian để thực hiện mục tiêu đó chỉ còn hơn 2 thập niên nhưng bên cạnh 4 nguy cơ được xác định từ năm 1994 mà đến nay, vẫn tồn tại và có mặt còn trở nên gay gắt hơn, Việt Nam đang đứng trước một loạt các nguy cơ mới như “bẫy thu nhập trung bình”, “chưa giàu đã già”, “tị nạn khí hậu”…
Muốn thoát khỏi các nguy cơ đó và đạt mục tiêu phát triển nhanh đi đôi với bền vững, Việt Nam cần phát huy mạnh mẽ hệ động lực phát triển của đất nước hiện nay.
Trước hết, phải có sự đột phá về thể chế để khơi thông mọi nguồn lực, mọi tiềm năng của đất nước. Xác định đây chính là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, Bộ Chính trị khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tiến hành công việc này, cần khắc ghi lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng “phép luật là phép luật của nhân dân, dùng để ngăn cản những hành động có hại cho nhân dân, để bảo vệ lợi ích chung của đại đa số nhân dân”[3] và do đó, phải đề phòng việc “cài cắm lợi ích nhóm” trong xây dựng luật pháp.
Cũng cần “tham khảo Hiến pháp của các nước bạn và của một số nước tư bản có tính chất điển hình”[4] một cách có chọn lọc để pháp luật Việt Nam vừa có sự tương thích với thế giới, vừa phù hợp với điều kiện đất nước.
Việt Nam cần phát huy sức mạnh của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự thịnh vượng về vật chất sẽ giúp Việt Nam nâng cao đời sống nhân dân, khả năng phòng vệ đất nước và vị thế quốc tế.
Muốn vậy, phải thực hiện một loạt biện pháp: Xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên sức mạnh của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; đẩy mạnh việc cơ cấu lại toàn bộ nền kinh tế; phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của các thành phần kinh tế mà kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất.
Văn hóa và con người Việt Nam là động lực không thể thiếu vì xưa nay, không dân tộc nào có thể “cất cánh”, phát triển nếu không dựa trên sức mạnh của văn hóa, con người.
Khi thế giới hội nhập ngày càng sâu rộng, văn hóa chính là hồn cốt, là “thẻ căn cước” của từng dân tộc; chỉ dân tộc nào có nội lực văn hóa mạnh mẽ mới không bị hòa tan và tiếp biến được tinh hoa văn hóa nhân loại.
Muốn phát triển bền vững phải kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường để hướng tới mục tiêu vì con người trong hiện tại và tương lai.
Thực hiện tư tưởng của Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh hội nhập quốc tế một cách chủ động, sáng tạo để tạo ra môi trường thuận lợi cho đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, từng bước đưa Việt Nam trở thành một chủ thể đóng vai trò kiến tạo các định chế khu vực và thế giới.
Điều quan trọng nhất lúc này là phát huy sức mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách là lực lượng lãnh đạo duy nhất của dân tộc Việt Nam. Cần khắc ghi lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, rằng phải làm cho mỗi đảng viên toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân, vì “làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”[5].
Đảng cũng phải tự đổi mới để trở thành biểu tượng của “văn minh” với trình độ tư duy hiện đại, phương thức lãnh đạo dân chủ, khả năng thích ứng trước mọi biến động của thời cuộc nhằm thực hiện bằng được cam kết đưa dân tộc Việt Nam đến phồn vinh, hạnh phúc.
Sự phồn vinh, hạnh phúc là những “chỉ số” mở và không ngừng được nâng cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định, Việt Nam là “một dân tộc đã có một nền văn hóa lâu đời, nhưng lại có đủ khả năng để trẻ lại”[6]. Thực hiện khát vọng của Người, Việt Nam cần thể hiện tư cách của một dân tộc không chỉ “dám đánh”, “biết thắng” trong chiến tranh vệ quốc mà còn biết “vươn mình” để phát triển - đó là lời thề danh dự của Đảng, là lòng tự tôn của một dân tộc có nền văn hiến lâu đời trong hành trình “định vị” lại chỗ đứng của mình trong hành trình phát triển của nhân loại.
------------------------
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, t.2, tr.282.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.281.
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.259.
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.510.
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.616.
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.327.