Ý kiến bạn đọc

Ðể Luật An toàn thực phẩm đi vào cuộc sống

Từ ngày 1-7-2011, Luật An toàn thực phẩm (ATTP) chính thức có hiệu lực thi hành. Luật gồm 11 chương và 72 điều, quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong vấn đề bảo đảm ATTP.

Theo đó, Luật có nhiều điểm mới, như quy định các nguyên tắc quản lý ATTP, nhất là trách nhiệm của người sản xuất kinh doanh; quản lý ATTP theo quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật; quản lý ATTP phải bảo đảm phân công, phân cấp rõ ràng. Luật quy định điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm, trong đó có cả thực phẩm tươi sống, thực phẩm đã qua chế biến, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, thực phẩm chức năng, thực phẩm biến đổi gien...

Ðối với loại hình thức ăn đường phố là ngành nghề kinh doanh đặc biệt và hiện nay đang là đối tượng gây ngộ độc thực phẩm cao nhất, vì vậy Luật đưa ra một mục riêng quy định về điều kiện bảo đảm an toàn loại thức ăn này. Theo đó, nguyên liệu để chế biến thức ăn đường phố phải bảo đảm an toàn thực phẩm, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng; dụng cụ ăn uống, chứa đựng thực phẩm phải bảo đảm an toàn vệ sinh; có dụng cụ che nắng, mưa, bụi bẩn, côn trùng và động vật gây hại; có đủ nước sạch đạt quy chuẩn kỹ thuật phục vụ việc chế biến, kinh doanh; tuân thủ quy định về sức khỏe... Người dân mong muốn các cơ quan chức năng sẽ có biện pháp mạnh tay hơn để hạn chế tình trạng thực phẩm 'bẩn', không an toàn có nguy cơ bùng phát. Với các gia đình có giấy phép kinh doanh, mở cửa hàng buôn bán, thì cơ quan chức năng dễ giám sát, kiểm tra. Song, với những người bán hàng rong, các gánh bún đậu mắm tôm, bún ốc, bún riêu, bánh đa cua ngồi vỉa hè, chất lượng không bảo đảm, thì việc kiểm tra, giám sát sao đây? Hôm nay họ bán chỗ này, ngày mai họ lại bán chỗ khác, những 'quán ăn' lưu động như vậy cơ quan nào, đơn vị nào kiểm tra? Giấy tờ nào chứng tỏ rằng họ đủ cơ sở, bảo đảm an toàn vệ sinh? Và kiểm tra, giám sát được bao lâu, hay lại để tình trạng 'đầu voi, đuôi chuột'. Những gánh hàng rong như vậy thường chỉ với một xô nước cỏn con mà rửa cả đống bát, đĩa. Thực tế không đơn giản như chúng ta nghĩ, bởi các ngành chức năng khó có thể kiểm soát hết được những người bán hàng rong, trong khi đó hầu hết công nhân, viên chức, người lao động và sinh viên, học sinh lại là người hay ăn những món hàng này nhất, bởi nó tiện ích và giá rẻ. Vấn đề đặt ra là giải quyết như thế nào đối với những người bán hàng rong loại này? Khi xảy ra ngộ độc thức ăn biết tìm họ ở đâu để phạt, để lấy mẫu kiểm tra thức ăn, đơn vị nào, cơ quan nào đứng lên làm những việc nêu trên, trách nhiệm thuộc về ai? Ðây quả là vấn đề nan giải mà các cấp, các ngành, địa phương cần xem xét để giải quyết thấu đáo, đừng để Luật ban hành mà hiệu quả thực hiện chẳng là bao.

AN PHƯƠNG

(Hà Nam)

Có thể bạn quan tâm