Hướng dẫn phòng bệnh Marek ở gà

NDĐT- Cục Thú y vừa ra văn bản hướng dẫn các biện pháp phòng, chống bệnh Marek ở gà. Theo đó, biện pháp phòng dịch trước mắt là tiêm vaccine bắt buộc cho gà con một ngày tuổi được nuôi để sinh sản.

Các cơ sở chăn nuôi cần thực hiện tốt các biện pháp vệ sinh phòng bệnh thú y, chăm sóc nuôi dưỡng để ngăn chặn bệnh Marek lây lan trong chuồng nuôi. Nên thu dọn và đốt hết lông hằng ngày vì virus tồn tại lâu trong chân lông.

Các trại gà chăn nuôi công nghiệp nhất thiết phải có khu riêng biệt để nuôi gà mái đẻ và gà con. Sau khi gà xuất chuồng, cần tẩy uế chuồng trại, dụng cụ và môi trường chăn nuôi bằng các loại thuốc khử trùng như formol 2% hoặc NaOH 5% và cần để trống  chuồng trại ít nhất một tháng.

Với đàn gà đã nhiễm bệnh, phải để trống chuồng ít nhất ba tháng và thường xuyên vệ sinh tiêu độc khử trùng mới được nuôi tiếp. 

Cục Thú y (DAH) đặc biệt lưu ý không nuôi gà lớn, gà con lẫn lộn. Khi phát hiện có bệnh, cần cách ly đàn mắc bệnh, không được vận chuyển gà trong đàn nhiễm bệnh ra ngoài.

Gà bệnh phải tiêu huỷ cả đàn bằng cách đốt, sau đó chôn như xử lý với bệnh cúm gia cầm. Sau đó tiến hành vệ sinh tiêu độc khử trùng chuồng trại định kỳ 1 – 2 lần mỗi tuần. Cấm nhập gà giống về nuôi trong thời gian xử lý đàn gà bệnh và để trống chuồng ít nhất 3 tháng.

Nguồn tin từ DAH cho biết, từ ngày 26-10, bệnh Marek đã xảy ra ở 15 hộ chăn nuôi gà hậu bị của một số xã, phường thuộc thị xã Tân An, tỉnh Long An với tổng số gà nuôi 4.700 gà nhập từ Công ty CP. Số gà phát bệnh, chết và tiêu huỷ lên tới 1.360 con.

Trước đó, vào đầu tháng 10, bệnh đã xảy ra ở 43 hộ chăn nuôi gà đẻ thuộc huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Số gà mắc bệnh và chết do người dân thông báo là 38.100 con. Cơ quan thú y vùng 6 đã chẩn đoán, xét nghiệm và xác định là bệnh Marek.

Marek là bệnh truyền nhiễm của gà do một loại virus thuộc nhóm herpes gây ra. Bệnh có đặc điểm là sự tăng sinh cao độ tế bào lympo dưới hình thức khối u ở tổ chức thần kinh ngoại biên, các cơ quan nội tạng, da và cơ làm xuất hiện các triệu chứng rối loạn vận động và bại liệt.

Virus gây bệnh được nhà bệnh lý học người Hungary Jozsef Marek mô tả lần đầu tiên ở nước này vào năm 1907.

Đến nay người ta đã phân lập được ba type virus herpes:  type 1 và  type 2 được phân lập trên gà, (trong đó  type 2 không có độc lực);  type 3 cũng không có độc lực, nhưng được phân lập trên gà tây.

* Đường lây:

Bệnh có thể lây lan nhanh, mạnh trên đàn gà vì virus có trong các nang lông. Sau khi nhiễm bệnh 14 ngày, gà con đã lây bệnh cho nhau.

Virus có thể tồn tại nhiều tháng trong môi trường ở nhiệt độ 20-25 độ C và hàng năm ở 4 độ C. Khi xâm nhập vào đàn, virus có khả năng lây lan nhanh giữa gia cầm chưa được tiêm phòng. Gà nhiễm bệnh tiếp tục mang trùng và là nguồn lây bệnh trong thời gian dài. Virus có thể lan truyền rất xa trong không khí.

Bệnh lây trực tiếp từ gà ốm sang gà khoẻ bằng đường thở và lây gián tiếp qua thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi và cơ sở ấp trứng có chứa mầm bệnh.

Bệnh không lây qua phôi.

* Triệu chứng: Bệnh tiến triển chủ yếu ở hai thể cấp tính và mãn tính.

- Thể cấp tính chủ yếu ở gà 4 – 8 tuần tuổi, có thể sớm hơn.

Bệnh ít có triệu chứng điển hình, ngoài hiện tượng chết đột ngột. Tỷ lệ chết thường cao, có khi tới 20 – 30%, thường thể hiện triệu chứng ủ rũ và gầy yếu trước khi chết.

Gà thường bỏ ăn, ỉa phân lỏng và giảm tỷ lệ đẻ, đi lại khó khăn, bại liệt, sã cánh một bên do viêm dây thần kinh vận động.

- Thể mãn tính (thể cổ điển) chủ yếu xảy ra ở gà 4 – 8 tháng tuổi thường ở hai thể, thể thần kinh và thể mắt.

+ Thể thần kinh: gà bệnh đi lại khó khăn, liệt nhẹ rồi dần dần bại liệt hoàn toàn. Đuôi gà có thể bị rủ xuống hoặc lệnh sang một bên. Cánh sã xuống một bên hoặc cả hai bên.

+ Thể viêm mắt: Trong nhiều ổ dịch, gà thường viêm mắt. Bệnh bắt đầu bằng hiện tượng viêm mắt nhẹ. Gà tỏ ra rất mẫn cảm với ánh sáng, chảy nước mắt trong. Dần dần viêm màng tiếp hợp rồi viêm mống mắt. Mủ trắng đóng dầy khoé mắt, khả năng nhìn kém dần, không mổ trúng thức ăn và cuối cùng có thể bị mù.

* Biểu hiện:

- Thể cấp tính: chủ yếu hình thành các khối u ở nội tạng. U thường có ở gan, lách, thận, phổi, buồng trứng, túi fabricius, dịch hoàn … gan, lách sưng to hơn nhiều lần so với bình thường, nhạt màu và bở. Đó là thể u lan tràn.

Trường hợp khối u ở thể hạt làm mặt gan sần sùi với nhiều nốt to nhỏ không đồng đều nhau màu trắng xám. Trường hợp khối u ở đường tiêu hóa như dạ dày tuyến, thành ruột, sẽ làm tổ chức này dày lên. U ở cơ làm tổ chức cơ phồng to, mặt cắt khối u màu trắng xám do thâm nhiễm bạch cầu.

- Thể mãn tính: bệnh tích chủ yếu là hiện tượng viêm tăng sinh các dây thần kinh ngoại vi. Dây thần kinh hông, thần kinh cánh  bị sưng to, có khi to hơn 4 – 5 lần so với bình thường và có thể bị phù thũng. Ngoài bệnh biến ở tổ chức thần kinh còn một số bệnh tích khác như các cơ bị teo, mắt mù, con ngươi biến dạng.

Thời gian ủ bệnh khoảng 3- 4 tuần sau khi nhiễm.

* Chẩn đoán:

Dễ nhầm bệnh Marek với bệnh Leuco về mặt dịch tễ học, triệu chứng lâm sàng và các biến đổi bệnh tích đại thể.

Cũng cần phân biệt bệnh Marek với bệnh Newcastle thể mãn tính. Cả hai bệnh đều có hiện tượng bại liệt, song bệnh Newcastle biểu hiện rối loạn cơ năng vận động do bệnh biến ở thần kinh trung ương thường phổ biến hơn.

Có thể bạn quan tâm