Tuy nhiên, trước tác động của thời gian và môi trường, việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản này đang đặt ra nhiều yêu cầu cấp thiết.
Pho sử đá độc bản trên vùng đất cố đô
18 vị La Hán (Thập bát La Hán) là danh xưng phổ biến trong các giai thoại về các vị A La Hán của Phật giáo Bắc truyền, có ảnh hưởng lớn tại Trung Quốc, sau đó lan tới các quốc gia như: Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam. Đây là những vị được xem là hiện thân của tâm tu và giải thoát, có vai trò quan trọng trên con đường chỉ dẫn, truyền đạt giáo pháp, dẫn dắt tu sĩ cùng chúng sinh hướng thiện.
Theo các tài liệu nghiên cứu, sưu tập tranh khắc ma nhai 18 vị La Hán tại động Liên Hoa được tạo tác trong bối cảnh vùng đất Ninh Bình dưới giai đoạn đầu nhà Trần là một trung tâm của các hoạt động tôn giáo. Đây cũng là lúc Phật giáo Đại Việt vào thời kỳ hưng thịnh.
Dựa trên bia ma nhai Kiến Gia Bính Ngọ niên tại vách động, sự kiện sử chép năm Kiến Trung thứ 7 (1231), để chấn hưng, mở rộng ảnh hưởng của Phật giáo: “Thượng hoàng Trần Thái Tông xuống chiếu rằng trong nước chỗ nào có đình trạm đều phải đắp tượng để thờ”. Tranh khắc này là minh chứng sớm nhất cho thấy tín ngưỡng thờ các vị La Hán được tiếp nhận, ảnh hưởng tới Phật giáo Việt Nam. Đáng chú ý, danh tính, trú xứ (nơi ở, nơi tu hành hoặc nơi cư trú) của các vị La Hán tại đây thường được nhắc tới vào giai đoạn đầu của tín ngưỡng La Hán, khi chưa bổ sung từ 16 thành 18 vị La Hán.
Sưu tập tranh mang phong cách tạo hình ma nhai độc đáo, được chia làm hai khối, khắc trên hai vách đá, mỗi vách chín bức thể hiện tính chất đối xứng, đều đặn, hài hòa. Mỗi bức đều có khung viền riêng, phổ biến từ 4-6cm, với hoa văn dây cuốn tinh xảo. Phần lớn các bức có bệ đài sen nhiều tầng. Các vị La Hán được thể hiện với dáng vẻ, tư thế, cử chỉ nét mặt, trong bối cảnh không gian, cảnh vật khác nhau. Có vị được tạo hình ngồi kiết già trên phiến đá; vị tay cầm gậy, nâng tràng hạt; vị tay buông hoặc kết ấn.
Dù mỗi bức đều có dòng chữ Hán, nhưng cách thể hiện các chi tiết chạm khắc trong từng bức tranh cho thấy nhiều khác biệt với truyền thống tạo hình La Hán ở Trung Quốc. Một số bức nhấn mạnh yếu tố trụ xứ trước khi nêu danh tính, phản ánh cách tiếp cận riêng trong tư duy Phật giáo và quan niệm thẩm mỹ của người Việt đương thời.
Ông Đào Xuân Ngọc, Trung tâm Nghiên cứu và Thực nghiệm Nghệ thuật (ERCA) cho biết, qua nghiên cứu cho thấy nghệ nhân tạo tác tranh có nền tảng từ mỹ thuật thời Lý nhưng sáng tác trong bối cảnh thời Trần. Đây là sự chuyển giao đặc biệt, thú vị về niên đại, chính trị và nghệ thuật giữa hai giai đoạn lịch sử. Trong đó, dấu vết của việc tô màu chu sa nâu đỏ còn lại trên một số chi tiết trang trí thể hiện trình độ kỹ thuật, thẩm mỹ cao của nghệ nhân thời kỳ đó và hiện nay chưa thấy ở bất kỳ di tích nào. Bộ tranh là nguồn tư liệu quan trọng phục vụ nghiên cứu lịch sử, mỹ thuật, Phật giáo thời Lý-Trần.
Với những giá trị đặc biệt, sưu tập tranh khắc ma nhai 18 vị La Hán là hiện vật độc bản, hiếm có trong hệ thống ma nhai và văn khắc ở Việt Nam. Đây cũng là tranh La Hán cổ nhất và là hệ thống hình khắc trên vách động duy nhất, góp phần khẳng định bản sắc riêng của nghệ thuật Phật giáo Việt Nam trong tiến trình lịch sử.
Thách thức trong bảo tồn
Chùa Phong Phú là di tích lịch sử-văn hóa cấp quốc gia có niên đại hơn 1.000 năm tuổi, nơi lưu giữ nhiều di sản liên quan đến Phật giáo và Đạo giáo. Tại đây còn đang lưu giữ một bệ đá chạm hoa văn sóng nước mang phong cách tạo tác, niên đại thời Lý; tượng thánh Trấn Vũ Thiên Tôn, bộ chín pho tượng tòa Địa Tạng, cùng sưu tập tranh khắc ma nhai 18 vị La Hán. Những hiện vật bằng đá này hòa quyện trong không gian thờ tự huyền bí của động Liên Hoa, kết hợp với Phật điện và hệ thống tượng thờ, tạo nên sự linh thiêng, u tịch, mang sắc thái đặc biệt hiếm thấy của một Phật động trong kiến trúc chùa vùng Bắc Bộ.
Hiện nay, sưu tập tranh khắc ma nhai 18 vị La Hán tại động Liên Hoa được lưu giữ nguyên trạng tại di tích, đã được kiểm kê, lập hồ sơ quản lý. Tuy nhiên, trải qua nhiều thế kỷ, dù được khắc trên đá, các bức tranh vẫn chịu nhiều tác động mạnh từ môi trường tự nhiên như: Rêu mốc, vi sinh vật, kết tinh muối, bong tróc và ảnh hưởng từ con người. Nhiều bức tranh có hiện tượng bị bào mòn, xước, mờ nét và bong vỡ một số chi tiết chạm khắc; các dòng chữ Hán ghi danh tính và trụ xứ của các vị La Hán trong nhiều bức đã bị phai mờ, mất chữ, gây khó khăn lớn cho công tác nghiên cứu và phục dựng nội dung.
Theo ông Nguyễn Quốc Hưng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Tây Hoa Lư, nhằm góp phần nâng cao nhận thức, niềm tự hào, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, cán bộ, nhân dân trong công tác bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, đồng thời quảng bá hình ảnh di sản đặc sắc của địa phương, phường sẽ từng bước khai thác giá trị di tích gắn với phát triển du lịch văn hóa-tâm linh bền vững, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.
Trước mắt, phường sẽ tổ chức lễ công bố quyết định, đón nhận bằng công nhận Bảo vật quốc gia đối với “Sưu tập tranh khắc ma nhai 18 vị La Hán tại động Liên Hoa, chùa Phong Phú”; đẩy mạnh công tác tuyên truyền về giá trị của bảo vật; lắp đặt hệ thống camera giám sát tại các vị trí trọng yếu; tiếp tục khôi phục thêm một số chữ Hán, nghiên cứu tạo hình của tranh khắc. Bên cạnh đó, triển khai ứng dụng công nghệ số hóa 3D bộ tranh và các đề tài trang trí trên tranh để xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ nghiên cứu, bảo tồn lâu dài; kết nối các di tích thời Lý-Trần trên địa bàn tỉnh phát triển du lịch; tổ chức hoạt động trải nghiệm, giáo dục di sản trong trường học.
Sưu tập tranh khắc ma nhai 18 vị La Hán là niềm tự hào của địa phương và tài sản quý giá của quốc gia. Việc bảo tồn và phát huy giá trị vì thế không đơn thuần gìn giữ một công trình nghệ thuật, mà còn là trách nhiệm bảo vệ những dấu ấn đặc sắc của lịch sử và bản sắc văn hóa dân tộc, để các giá trị này được gìn giữ nguyên vẹn và tiếp tục truyền lại cho các thế hệ sau.