Xác định việc gìn giữ, phát huy giá trị các bảo vật quốc gia không chỉ dừng lại ở trưng bày, tỉnh hướng tới kể những câu chuyện lịch sử-văn hóa bằng những chứng tích xác thực, giàu sức thuyết phục, giúp công chúng hiểu sâu sắc hơn về lịch sử, văn hóa truyền thống, phong tục và con người vùng đất cố đô.
Di sản lịch sử và tinh thần cộng đồng
Chùa Keo Hành Thiện, xã Xuân Hồng là di tích kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu vùng đồng bằng Bắc Bộ, được xếp hạng di tích lịch sử-văn hóa quốc gia đặc biệt. Dù không có sư trụ trì, nhưng bằng tình yêu, trách nhiệm và ý thức cộng đồng, người dân nơi đây đã lưu giữ được nhiều di vật quý. Trong đó, tiêu biểu là cụm bia đá thời Lê Trung Hưng (thế kỷ 17-18), gồm ba tấm còn nguyên vẹn, mang niên đại Hoằng Định 13 (năm 1613), Cảnh Trị 9 (năm 1671), Chính Hòa 25 (năm 1704) vừa được công nhận là bảo vật quốc gia vào đầu năm 2026.
Văn bia ca ngợi công lao của Đức Thánh Dương Không Lộ, một vị Thiền sư, Quốc sư, Đại pháp sư nổi tiếng thời Lý, được nhân dân tôn sùng là “Nam Thiên Thánh Tổ”. Không chỉ truyền bá, phổ biến giáo lý Phật giáo, ông còn chữa bệnh cho vua Lý Thần Tông, dạy dân nghề đánh cá, đúc đồng, cứu giúp nhân dân,... qua đó, phản ánh tư tưởng Phật giáo luôn gắn bó, hòa quyện với đời sống nhân dân, hướng con người tới những điều tốt đẹp. Văn bia cũng cung cấp nhiều thông tin về di tích-danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Đại Việt; công lao của những người khởi xướng, đóng góp công sức, tiền của cho việc xây dựng, trùng tu chùa, thể hiện tinh thần “uống nước nhớ nguồn” của cộng đồng và đời sống xã hội hài hòa, thanh bình thời kỳ đó, khi nhân dân được ấm no, hạnh phúc.
Cụm bia đá còn là nhân chứng lịch sử cho sự kiện trận lụt lớn năm 1611, làm thay đổi không gian cư trú, kiến trúc của cộng đồng, hình thành chùa Keo Hành Thiện ngày nay. Đồng thời, di vật cũng là minh chứng cho sự hợp tác cộng đồng, kết hợp nhiều lực lượng giữa quan lại triều đình, nho sĩ, chức sắc, nghệ nhân, thợ đá và đông đảo nhân dân trong vùng, để tạo tác nên không chỉ là hiện vật mà còn là biểu tượng tinh thần, giáo dục đạo lý, truyền tải tri thức về nhân quả, từ bi, lối sống nghĩa tình, đức độ.
Cấu tạo vật liệu đá bền vững còn thể hiện trình độ chọn lọc vật liệu, khai thác tài nguyên, kỹ nghệ chế tác thủ công thời trung đại. Cụm bia đá vì thế trở thành nguồn tư liệu quý giá phục vụ công tác nghiên cứu lịch sử xã hội, Phật giáo, văn hóa làng xã, đời sống, kinh tế-tín ngưỡng, nghệ thuật cổ.
Ông Đào Văn Mạnh, Phó Trưởng ban Bản tự chùa Keo Hành Thiện cho biết, cụm bia đá gắn liền với quá trình hình thành của làng Hành Thiện-vùng đất khoa bảng nổi tiếng với truyền thống hiếu học. Văn bia giúp người dân, du khách hiểu rõ hơn về lịch sử, văn hóa, đạo lý của địa phương, làm nên bản sắc văn hóa riêng; đồng thời là niềm tự hào của mỗi người dân và củng cố sự gắn kết cộng đồng cùng phát triển, gìn giữ di sản.
Theo Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Xuân Hồng Nguyễn Thành Mạnh, cụm bia đá cùng chùa Keo Hành Thiện là nguồn tài sản văn hóa có giá trị lớn về du lịch và giáo dục truyền thống, tạo thêm động lực phát triển kinh tế-xã hội cho địa phương. Việc bảo tồn, phát huy sẽ được xã thực hiện trên nguyên tắc giữ gìn tối đa yếu tố gốc, bảo vệ nguyên trạng bảo vật gắn với không gian di tích, ứng dụng công nghệ số; đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao ý thức của cộng đồng trong việc gìn giữ bảo vật quốc gia một cách bền vững.
Đưa hiện vật đến gần với công chúng
Ninh Bình hiện có 22 bảo vật quốc gia; trong đó, 6 bảo vật được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh, 16 bảo vật lưu giữ tại các di tích. Đây là những hiện vật gốc, độc bản, có giá trị tiêu biểu đặc sắc, niên đại trải dài từ văn hóa Đông Sơn đến thời kỳ Đinh-Tiền Lê, Lý-Trần và thời kỳ Lê-Mạc.
Những năm qua, công tác bảo tồn các bảo vật quốc gia luôn được tỉnh quan tâm, chú trọng. Tuy nhiên, thực tế vẫn đặt ra nhiều khó khăn, thách thức. Nhiều bảo vật được lưu giữ tại các di tích gốc, chịu tác động trực tiếp của điều kiện khí hậu, độ ẩm, nguy cơ xuống cấp do môi trường, thời gian; nguồn lực cho bảo quản chuyên sâu, ứng dụng công nghệ hiện đại, số hóa vẫn còn hạn chế. Bên cạnh đó, việc cân bằng giữa bảo tồn nguyên trạng và phục vụ tham quan, phát huy giá trị cũng đặt ra những yêu cầu kỹ thuật khắt khe.
Ông Đỗ Văn Hiến, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Ninh Bình cho biết, việc bảo quản, gìn giữ, phát huy giá trị các bảo vật quốc gia góp phần quan trọng trong việc bảo tồn tính xác thực, toàn vẹn của di sản văn hóa dân tộc; đồng thời, tạo nguồn tư liệu khoa học phục vụ công tác nghiên cứu, giáo dục truyền thống và phát triển văn hóa du lịch bền vững của tỉnh. Khi được bảo quản và giới thiệu đúng cách, di sản mới thật sự “sống” trong đời sống xã hội.
Tiến sĩ Phạm Quốc Quân, nguyên Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam cho rằng, với lợi thế về du lịch cùng định hướng phát triển công nghiệp văn hóa, Ninh Bình đã chú trọng khai thác giá trị di sản, trong đó bảo vật quốc gia giữ vai trò cốt lõi. Nhiều bảo vật đang được lưu giữ tại các di tích, gắn bó mật thiết với cộng đồng, trở thành điểm nhấn thu hút du khách.
Để các bảo vật không chỉ được bảo vệ mà còn tỏa sáng trong đời sống đương đại, tỉnh cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ như: số hóa 3D, trình chiếu mapping, xây dựng không gian trải nghiệm số, đưa bảo vật đến gần hơn với công chúng mà không ảnh hưởng đến hiện trạng; tăng cường vai trò quản lý nhà nước, gắn với sự tham gia trách nhiệm của cộng đồng. Những nỗ lực này, góp phần thúc đẩy kinh tế, nâng cao đời sống tinh thần của người dân và gìn giữ giá trị văn hóa cho các thế hệ mai sau.