Biến đổi khí hậu và tác động tới đời sống xã hội

Bài 2: Tác động và giải pháp

Một thay đổi khí hậu của trái đất dù nhỏ cũng sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống kinh tế-xã hội của bất kỳ quốc gia nào. Ở nước ta, biến đổi khí hậu có tác động trực tiếp đến thế mạnh sản xuất nông nghiệp, kinh tế biển, ven biển, tuổi thọ công trình hạ tầng, đô thị và sức khỏe con người.

Nhà thầu đang thi công kè chống sạt lở bờ sông Cổ Chiên tại phường Long Châu, tỉnh Vĩnh Long.
Nhà thầu đang thi công kè chống sạt lở bờ sông Cổ Chiên tại phường Long Châu, tỉnh Vĩnh Long.

Nhiều ảnh hưởng sâu rộng tới đời sống xã hội

Theo Tiến sĩ Nguyễn Hữu Quyền, Viện Khoa học Khí tượng thủy văn, môi trường và Biển (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), thế hệ thứ 6 của Dự án đối chiếu mô hình khí hậu quốc tế (CMIP6) trong Chương trình nghiên cứu khí hậu thế giới (WCRP) đưa ra những giả định về phát triển kinh tế-xã hội với các mức phát thải và cưỡng bức bức xạ khác nhau, làm cơ sở cho các dự tính khí hậu tương lai. Đến năm 2100, ba kịch bản khí hậu được đặt ra với mức cưỡng bức bức xạ từ 2,6W/m2 (kịch bản thấp) đến 7,0W/m2 (kịch bản cao).

Theo Báo cáo của Ủy ban liên chính phủ (IPCC) về biến đổi khí hậu năm 2021, nhiệt độ trái đất có thể tăng thêm 4 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp năm 1900. Các mức nóng lên toàn cầu (Global Warming Levels - GWLs) được sử dụng để mô tả mức độ gia tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu, là cơ sở khoa học cho việc đánh giá rủi ro và xác định mức độ ưu tiên thích ứng theo mục tiêu kinh tế-xã hội của từng quốc gia. Đây cũng là cơ sở để các nhà khoa học Viện Khoa học Khí tượng thủy văn, môi trường và Biển xây dựng các kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam.

Những địa phương ven biển và vùng sản xuất lúa gạo sẽ chịu ảnh hưởng lớn nhất của hiện tượng nóng lên toàn cầu. So với thời kỳ cơ sở 1995-2014 và trong điều kiện không thực hiện các biện pháp thích ứng, số liệu từ mô hình giả định cho thấy năng suất lúa ở khu vực Đồng bằng sông Hồng sẽ giảm từ 6% (vụ đông xuân) và 9% (vụ mùa) nếu như nhiệt độ tăng thêm 4 độ C. Tương tự, ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, năng suất lúa sẽ giảm 8% (vụ đông xuân) và 10% (vụ mùa).

Nhiệt độ cao, tần suất lớn cũng sẽ làm ảnh hưởng đáng kể đến các hoạt động xây dựng và kết cấu công trình. “Nền nhiệt tăng cao hơn 38 độ C, số ngày nắng nóng liên tục, kéo dài có thể làm ảnh hưởng đến kết cấu và độ bền của các công trình hạ tầng, mặt đường”, Cục trưởng Cục Kết cấu hạ tầng (Bộ Xây dựng) cho biết. Các khu vực có mật độ xây dựng cao cũng phải chịu áp lực gió giật lớn hơn bình thường, nhất là ở các tỉnh, thành phố phía nam, nơi các cơn gió giật có thể tăng thêm 20% so thời kỳ cơ sở.

Sức khỏe con người trong điều kiện nhiệt ẩm cao tiềm ẩn nhiều nguy cơ sốc nhiệt. Khoảng hai năm trở lại đây, nước ta đã có khoảng 65 ngày mỗi năm nhiệt độ có thể gây hại. Theo xu hướng này, đến cuối thế kỷ 21, biến đổi khí hậu có thể khiến một nửa số ngày trong năm có thời tiết gây hại.

Chỉ số nhiệt độ cầu ướt (WBGT), được sử dụng trong đánh giá tác động của nhiệt-ẩm đến sức khỏe con người cho thấy nguy cơ sốc nhiệt cao khi lao động ngoài trời ở nhiệt độ từ 32 độ C. Do nhiệt-ẩm cao, số ca bệnh sốt xuất huyết có thể gia tăng 25% ở Hà Nội và 15% ở Thành phố Hồ Chí Minh nếu nền nhiệt tăng thêm 2 độ C so hiện nay.

Chủ động giải pháp ứng phó

Theo Tiến sĩ Trần Thanh Thủy, Viện Khoa học Khí tượng thủy văn, môi trường và Biển, xây dựng các kịch bản biến đổi khí hậu giúp cho các ngành, các địa phương có thể chủ động ứng phó, giảm đến mức thấp nhất tác hại của thiên tai...

Thí dụ, các đô thị phải xây dựng phương án, giải pháp chống ngập lụt, gió giật; các công trình hạ tầng, giao thông cần có phương án chống xuống cấp; các địa phương ven biển cần đề phòng triều cường, nước biển dâng, sạt lở đất; khu vực miền núi cần có kế hoạch ứng phó lũ quét, lũ ống… Kịch bản được cập nhật 5 năm/lần không chỉ bổ sung đầy đủ thông tin mới, khoa học nhất mà còn là cơ sở khoa học cho dự tính khí hậu tương lai.

“Không có kịch bản tốt nhất, chỉ có kịch bản hợp lý nhất ứng với các thông tin về khí hậu, phát thải khí nhà kính và phát triển kinh tế-xã hội”, Tiến sĩ Trần Thanh Thủy khẳng định.

Tuy nhiên, Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Quang, Cục trưởng Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) lưu ý, sự phát triển nhanh của các ngành năng lượng tái tạo, các hoạt động kinh tế xanh đã khiến một số thông tin trong kịch bản biến đổi khí hậu trở nên lạc hậu. Các công bố khoa học mới nhất phục vụ CMIP7 cho thấy nền kinh tế nhiều quốc gia không còn phụ thuộc hoàn toàn vào nhiên liệu hóa thạch. Dù vậy, các rủi ro và tác động của biến đổi khí hậu không hề giảm, các quốc gia càng phải quyết liệt ứng phó để giữ mức tăng nhiệt độ toàn cầu dưới 2 độ C (và hướng tới 1,5 độ C) theo Thỏa thuận Paris năm 2015, bảo đảm an ninh khí hậu và phát triển bền vững.

Chủ động trước các diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu là biện pháp hiệu quả để ứng phó khí hậu cực đoan. Điều này cho phép các bộ, ngành, địa phương và đơn vị liên quan nghiên cứu, xem xét tình huống biến đổi khí hậu cực đoan, bất lợi nhất trong quá trình xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư và phương án ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là đối với hệ thống kết cấu hạ tầng trọng yếu, công trình phòng, chống thiên tai, hồ, đập, đê điều, giao thông, năng lượng và hệ thống cấp, thoát nước.

Bên cạnh đó, có thể lồng ghép kịch bản biến đổi khí hậu vào công tác đánh giá rủi ro, quy hoạch, đầu tư, cấp phép và xây dựng giải pháp thích ứng cho các hoạt động kinh tế và hạ tầng số (viễn thông, trung tâm dữ liệu, logistics, thương mại điện tử, du lịch, nông nghiệp số); xây dựng phương án bố trí, ổn định dân cư tại vùng có nguy cơ thiên tai; quản lý phát triển đô thị, hạ tầng kỹ thuật, kết cấu giao thông; rà soát, cập nhật các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật chuyên ngành liên quan, phục vụ yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và an toàn.

Thực tế diễn biến khí hậu những năm gần đây, cùng với cơ sở khoa học do IPCC công bố cho thấy tính nghiêm trọng của quá trình biến đổi khí hậu trái đất. Chỉ trong vòng 100 năm kể từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, trái đất nóng thêm 2 độ C và nguy cơ tăng thêm 4 độ C trong khoảng 100 năm nữa. Nguyên nhân chính là trái đất đang bị “nung nóng” bởi tác nhân con người, công nghiệp hóa, đô thị hóa, gia tăng dân số và các hoạt động phát triển kinh tế-xã hội.

Phòng chống và ứng phó biến đổi khí hậu cực đoan không thể là việc riêng của một vài quốc gia.

Chỉ trong vòng 100 năm kể từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, trái đất nóng thêm 2 độ C và nguy cơ tăng thêm 4 độ C trong khoảng 100 năm nữa.

Những nỗ lực của nhiều nước, trong đó có Việt Nam, trong “cuộc chiến” giảm phát thải khí nhà kính; đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo; bảo vệ và nâng cao chất lượng rừng… đang từng bước góp phần giảm áp lực của biến đổi khí hậu cực đoan toàn cầu. Đó mới chính là “kịch bản” hữu ích nhất trong công cuộc bảo vệ hành tinh xanh.

Bài 1 (★) Xem Báo Nhân Dân từ số ra ngày 3/11/2026.

Có thể bạn quan tâm