Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, thực hiện định hướng sản xuất nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu, sở đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 457/KH-UBND ngày 12/8/2026 về xả lũ vụ Thu Đông đối với các tiểu vùng sản xuất ba vụ giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh An Giang; trong đó, năm 2026 thực hiện xả lũ 46.324ha, thuộc 37 xã, phường.
Đây là một trong những giải pháp quan trọng nhằm tận dụng nguồn nước tự nhiên, hỗ trợ cải thiện chất lượng đất, phục hồi hệ sinh thái đồng ruộng; nâng cao hiệu quả sản xuất trong những vụ tiếp theo và tính bền vững của sản xuất nông nghiệp.
Tuy nhiên, mùa nước nổi năm nay bất thường. Gần cuối tháng 10, nước nổi tại các xã vùng đầu nguồn sông Hậu như An Phú, Phú Hữu, Nhơn Hội, Vĩnh Hậu từ đồng rút ra sông lớn sớm hơn gần 1 tháng so các năm trước. Nông dân đang cày xới đồng để chuẩn bị cho mùa màng tới.
Tại phường Vĩnh Tế, ông Nguyễn Hoàng Anh chỉ đám ruộng còn nhiều cỏ dại nói, những đám ruộng này nước nổi mới vào ngập lăm tăm không lâu lại rút nhanh nên cỏ dại chưa diệt hết. Ông Hoàng Anh cho biết, ông có 2ha đất ruộng, trong đó 2ha nằm ở vùng trũng ven kênh, còn thửa ruộng còn lại nằm ở nơi đất cao.
Ông Hoàng Anh lo lắng: “Phù sa vào đồng theo nước rút ra sông sớm nên khả năng độ màu mỡ đất ruộng không tốt như mọi khi. Như vậy, tôi phải tốn thêm tiền bón phân, cày xới đất, tiền phun xịt diệt cỏ dại”.
Đó là nỗi niềm chung của nhiều nông dân. Họ tính toán, thí dụ như các năm trước, nước nổi vào đồng, ra sông đúng chu kỳ. Từ nguồn phù sa bồi lắng, khi đó 1 công đất ruộng nhà nông dùng 40kg phân bón, còn năm nay 1 công phải 50kg trở lên.
Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi tỉnh An Giang Lương Huy Khanh cho biết, về nguồn phù sa bồi đắp cho đồng ruộng, lượng phù sa đưa vào đồng phụ thuộc vào hàm lượng phù sa trong dòng chảy từ thượng nguồn, mực nước lũ, thời gian ngập, khả năng kết nối giữa sông và đồng ruộng cũng như điều kiện vận hành các công trình thủy lợi.
Do đó, với đặc điểm lũ năm 2026 có mực nước thấp hơn một số năm trước, thời gian ngập ngắn và nước rút nhanh, khả năng tiếp nhận và bồi lắng phù sa trên đồng ruộng có thể bị hạn chế so với những năm lũ lớn, kéo dài.
Tuy nhiên, không thể chỉ căn cứ vào mực nước và thời gian ngập để kết luận chính xác lượng phù sa năm nay tăng hay giảm bao nhiêu; vấn đề này cần được đánh giá thông qua số liệu quan trắc và phân tích thực tế tại từng khu vực.
Cần nhấn mạnh rằng, đối với ngành nông nghiệp, việc đưa nước lũ vào đồng ruộng có ý nghĩa rất quan trọng tiếp nhận phù sa, bổ sung dinh dưỡng tự nhiên mà còn góp phần rửa phèn, cải thiện môi trường đất, vệ sinh đồng ruộng hạn chế một số nguồn sâu bệnh tồn lưu sau các vụ sản xuất và tạo điều kiện phục hồi nguồn lợi thủy sản tự nhiên.
Đây là giải pháp quan trọng nhằm cải thiện hệ sinh thái đồng ruộng, hướng đến sản xuất nông nghiệp bền vững. Đối với vụ Đông Xuân 2026-2027, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh xác định đây là vụ sản xuất quan trọng, cần được tổ chức chặt chẽ nhằm bảo đảm năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cho nông dân.
Ông Lương Huy Khanh cho biết: “Trước diễn biến mùa nước nổi năm 2026 có nhiều biến động, nước rút nhanh tại một số khu vực và nguy cơ ảnh hưởng El Nino mùa khô năm 2026-2027, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh khuyến cáo nông dân cần chủ động chuẩn bị các điều kiện sản xuất, không chủ quan trước tình hình nguồn nước hiện tại”.
Trong đó, tập trung thực hiện một số giải pháp như nông dân thường xuyên theo dõi thông tin dự báo thời tiết, diễn biến nguồn nước và hướng dẫn của cơ quan chuyên môn tại địa phương; thực hiện xuống giống theo lịch thời vụ do ngành nông nghiệp khuyến cáo, bảo đảm phù hợp với điều kiện nguồn nước và đặc điểm của từng tiểu vùng.
Cần tổ chức xuống giống tập trung, đồng loạt theo từng khu vực để thuận lợi trong điều tiết nước, chăm sóc và phòng trừ sinh vật gây hại.
Đặc biệt, không xuống giống tại những khu vực chưa bảo đảm nguồn nước tưới cho suốt vụ sản xuất, tránh tình trạng thiếu nước ở giai đoạn lúa làm đòng, trổ và nuôi hạt, ảnh hưởng đến năng suất.
Đối với những diện tích có thời gian ngập lũ ngắn, các tiểu vùng không xả lũ, khả năng tiếp nhận phù sa hạn chế, nông dân cần quan tâm bổ sung chất hữu cơ cho đất thông qua sử dụng phân hữu cơ, phân hữu cơ vi sinh phù hợp; xử lý rơm rạ sau thu hoạch đúng kỹ thuật, hạn chế đốt rơm rạ ngoài đồng; thực hiện bón phân cân đối, hợp lý theo nhu cầu sinh trưởng của cây lúa, tăng hiệu quả sử dụng phân bón, cải thiện chất lượng đất và giảm chi phí sản xuất.
Ưu tiên sử dụng giống lúa xác nhận, giống có chất lượng cao, thời gian sinh trưởng phù hợp, khả năng thích ứng với điều kiện sinh thái và nguồn nước của từng địa phương, đồng thời đáp ứng nhu cầu thị trường.
Cơ cấu nhóm giống lúa khuyến cáo gồm: Nhóm giống chủ lực OM18, OM5451, OM4900, OM6976, OM2517, OM7347, Đài Thơm 8, ST24, ST25…; Nhóm giống bổ sung: IR4625, ĐS1, OM2717, OM6162, RVT, OM4218, Jasmine 85, ML202, Cửu Long 555…
Việc lựa chọn giống cụ thể cần căn cứ vào cơ cấu giống được khuyến cáo, điều kiện canh tác và nhu cầu tiêu thụ tại từng địa phương; không nên sử dụng giống chưa được kiểm chứng hoặc gieo sạ nhiều giống trên cùng một cánh đồng.
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh áp dụng các quy trình canh tác tiên tiến, thực hiện quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM), sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật theo nguyên tắc đúng lúc, đúng cách, đúng liều lượng; thường xuyên thăm đồng để phát hiện sớm và phòng trừ sinh vật gây hại kịp thời.
Nông dân cần tích cực tham gia các hợp tác xã, tổ hợp tác để cùng tổ chức sản xuất, thống nhất lịch thời vụ, cơ cấu giống, quy trình kỹ thuật và quản lý đồng ruộng...; qua đó, từng bước hình thành vùng sản xuất tập trung, nâng cao chất lượng hạt gạo, giảm chi phí đầu vào, hạn chế rủi ro về đầu ra và nâng cao thu nhập cho người trồng lúa.
Thông qua các văn bản chỉ đạo, ngành nông nghiệp đề nghị Ủy ban nhân dân các xã, phường, cơ quan chuyên môn và hệ thống khuyến nông cơ sở tăng cường hướng dẫn, tuyên truyền, vận động nông dân thực hiện đúng lịch thời vụ, cơ cấu giống và quy trình kỹ thuật; thường xuyên theo dõi diễn biến thời tiết, nguồn nước để kịp thời điều chỉnh phương án sản xuất phù hợp với tình hình thực tế.
Có thể khẳng định, việc nước nổi năm 2026 rút sớm là một trong những yếu tố cần được quan tâm khi tổ chức sản xuất vụ Đông Xuân 2026-2027. Tuy nhiên, điều quan trọng không chỉ là lượng phù sa được bồi đắp trong mùa lũ mà còn là khả năng chủ động quản lý đất, nước và tổ chức sản xuất phù hợp với điều kiện từng vùng.