Xử lý sai phạm về ô nhiễm môi trường ở Công ty bia Sài Gòn - Nghệ Tĩnh

ND - Báo Nhân Dân ngày 12-8 đã đưa tin, Công an Nghệ An tiếp tục chỉ đạo điều tra hệ thống xử lý môi trường trái quy định của Nhà máy bia Sài Gòn - Nghệ An, thuộc Công ty cổ phần bia Sài Gòn - Nghệ Tĩnh. Chúng tôi xin thông tin đến bạn đọc Thông báo kết luận kiểm tra công tác bảo vệ môi trường ngày 11-8 đối với công ty này của Ðoàn kiểm tra - Tổng cục Môi trường.

Trong nội dung biên bản thông báo kết luận nêu rõ: Năm 2005, do nhu cầu bia tăng cao, công ty đã được UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt dự án đầu tư mở rộng đồng bộ dây chuyền sản xuất bia công suất 50 triệu lít/năm. Nhưng sau đó báo cáo tác động môi trường của dự án không được Hội đồng thẩm định của Bộ Tài nguyên và Môi trường thông qua do cộng đồng dân cư trong khu vực không đồng ý cho dự án mở. Tuy nhiên, công ty vẫn tiếp tục hoạt động với công suất 50 triệu lít/năm, cao điểm lên đến 70 triệu lít/năm.

Tại thời điểm kiểm tra, nước thải của công ty khoảng 900 m3/ngày được thu gom vào hệ thống xử lý nước thải đã được cải tạo, sau đó chảy ra mương thoát nước số 3 của TP Vinh. Ðoàn kiểm tra đã phát hiện ở đáy phía bên ngoài bể kỵ khí, công ty thiết kế hai hệ thống đường ống (tạm gọi là hệ thống ngang và hệ thống dọc bể) bằng kẽm đường kính 40 mm với mục đích thu hồi bùn từ hệ thống bể UASB (bể xử lý nước thải đầu tiên khi bơm từ bể điều hòa lên) vào máy ép bùn. Hai đường ống mà Ðoàn kiểm tra phát hiện được thiết kế không đúng quy trình kỹ thuật của hệ thống xử lý nước thải, được điều khiển bằng hệ thống van khóa, theo ý muốn và chủ ý của người vận hành. Khi mở các van xả thải nhận thấy khu vực chung quanh bốc mùi hôi thối, đúng với phản ánh của nhân dân, thường xảy ra vào ban đêm và kết thúc lúc hai giờ sáng.

Ðoàn kiểm tra phối hợp Viện Công nghệ môi trường - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam tiến hành lấy một mẫu nước thải sau xử lý và một mẫu nước lẫn bùn thải xả ra từ các đường ống phát hiện nêu trên để phân tích.  Kết quả phân tích mẫu nước thải sau xử lý có các thông số ô nhiễm như sau: hàm lượng sunfua (S2-) = 7,95 mg/l, vượt 16,06 lần quy chuẩn kỹ thuật cho phép theo TCVN 5945: 2005, cột B với Kq=0,9 và Kf = 1,1 quy chuẩn Việt Nam (QCVN); COD = 252 mg/l, vượt QCVN 3,18 lần; BOD55 vượt 86,5 lần,... = 88 mg/l, vượt 1,78 lần. Kết quả phân tích mẫu nước lẫn bùn thải có: COD vượt 120,2 lần; BOD.

Khí thải (chủ yếu là: Bụi, SOx, NOx...) phát sinh từ lò hơi đốt dầu FO và lò hơi đốt than. Hiện tại, lò hơi đốt dầu đang tạm ngưng hoạt động (chỉ được sử dụng khi lò hơi đốt than có sự cố); lò hơi đốt than mới được công ty đầu tư từ tháng 8-2008, có xử lý bụi bằng hệ thống lọc bụi Cyclon và xử lý khí thải bằng hệ thống dập bụi ướt với dung dịch hấp thụ là NaOH. Tuy nhiên, tại khu vực xây dựng hệ thống xử lý nước thải có phát sinh mùi hôi thối, khó chịu và bị người dân chung quanh khiếu kiện kéo dài. Về quản lý chất thải rắn, công ty đã đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại với Sở Tài nguyên và Môi trường Nghệ An, nhưng việc chuyển giao cho các đơn vị không có giấy phép hành nghề vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại là trái quy định về bảo vệ môi trường, không theo bộ chứng từ chất thải nguy hại do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành.

Căn cứ Kết luận kiểm tra về bảo vệ môi trường số 3524/BVMT ngày 31-12-2007 của Cục Bảo vệ môi trường và kết quả phân tích mẫu nước thải ngày 31-7-2009, số phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp công ty còn thiếu một tỷ 88 triệu đồng. Trước những sai phạm có tính hệ thống của công ty, Ðoàn kiểm tra đã thống nhất các biện pháp xử lý: phạt tiền 72.250.000 đồng với tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 8 và khoản 9, Ðiều 9 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính. Về hành vi vi phạm hành chính không xử phạt tiền do hết thời hiệu xử phạt nhưng vẫn áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả là: Không lập báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với Dự án nâng công suất nhà máy lên 50 triệu lít/năm mà đã tiến hành xây dựng hoặc đưa công trình vào hoạt động. Buộc Công ty cổ phần bia Sài

Gòn - Nghệ Tĩnh phải tháo gỡ và hàn bịt ngay toàn bộ hệ thống đường ống, van xả nước thải, bùn thải trái quy định, trước sự giám sát của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nghệ An và các cơ quan có liên quan; giảm công suất sản xuất (cao nhất là 25 triệu lít/năm) để phù hợp khả năng xử lý của hệ thống xử lý nước thải, bảo đảm nước thải sau xử lý đạt QCVN; thực hiện quản lý chất thải nguy hại đúng quy định; quan trắc khí thải ống khói và chỉ được phép thải khí thải đạt QCVN ra ngoài môi trường và có biện pháp giảm mùi hôi phát sinh từ hệ thống xử lý nước thải; thực hiện ngay việc cải tạo, xây dựng bổ sung để nâng công suất và hiệu suất xử lý của hệ thống xử lý nước thải hiện hữu, bảo đảm nước thải sau xử lý đạt QCVN; hệ thống xử lý nước thải phải có đồng hồ công-tơ đo điện riêng biệt, có nhật ký vận hành và được ghi, đo hằng ngày theo quy định hiện hành; hồ sơ thiết kế hệ thống thu gom và xử lý nước thải gửi về Tổng cục Môi trường để xem xét, đánh giá và chấp thuận trước khi xây dựng, cải tạo; lập đề án bảo vệ môi trường đối với Dự án mở rộng, nâng công suất không có thủ tục về môi trường theo quy định. Sau khi hoàn thành xây dựng và vận hành thử nghiệm hệ thống xử lý chất thải, công ty phải báo cáo Tổng cục Môi trường để kiểm tra và chỉ được phép đưa công trình vào vận hành chính thức khi đã có văn bản chấp thuận của Tổng cục Môi trường. Chậm nhất là tháng 12-2009 đưa vào vận hành chính thức với công suất thiết kế; lắp đặt hệ thống đo lưu lượng và quan trắc liên tục, tự động một số thông số ô nhiễm đặc trưng trong nước thải như pH, COD, cặn lơ lửng, a-mô-ni-ắc,... bảo đảm nước thải sau xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải. Hệ thống quan trắc này phải được kiểm chuẩn theo quy định của pháp luật hiện hành; trước khi lắp đặt phải báo cáo và gửi hồ sơ, hướng dẫn kỹ thuật của hệ thống về Tổng cục Môi trường và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nghệ An để xem xét, đánh giá, kiểm tra, giám sát quá trình lắp đặt, kết quả quan trắc của hệ thống phải phù hợp kết quả phân tích mẫu nước thải thực tế theo tiêu chuẩn hiện hành; cửa xả nước thải sau xử lý phải được đặt ở vị trí thuận lợi cho việc kiểm tra, giám sát theo quy định tại Ðiều 82 của Luật Bảo vệ Môi trường.

Có thể bạn quan tâm