“Tấm áo” văn hóa

Chơi xuân kẻo hết xuân đi

Cái già xồng xộc nó thì theo sau…

Cảnh tranh cướp giằng bông tại Lễ hội Sơn Đồng (huyện Hoài Đức). Ảnh: LÊ HIẾU
Cảnh tranh cướp giằng bông tại Lễ hội Sơn Đồng (huyện Hoài Đức). Ảnh: LÊ HIẾU

Nhẩm đếm từng bước trên con đường nhỏ, cỏ non xanh chen chúc vươn lên hứng những hạt mưa xuân trong lành, tôi chợt nhớ đôi câu thơ của Bà chúa thơ Nôm. Tuổi già đã đuổi kịp mình từ lâu rồi, mà trong lòng, xuân cũng cạn kiệt. Còn có chỗ nào để chơi xuân, thôi thì lại vào đây vậy. Sức mấy mà len chân, chen chúc vào chốn lễ hội hay hành hương, “hành xác” về chùa Hương, lên Yên Tử, Bái Đính… Văn Miếu vừa gần gũi, vừa yên tĩnh, lại thoáng đãng. Đủ không khí để hít thở. Thừa cả không gian và thời gian để buông lỏng đầu óc…

Đã xế chiều, mưa xuân buổi sáng giăng màn bụi mờ đục, giờ nặng hạt hơn, ướt đẫm cỏ cây. Ngước lên những cành cây khô khốc, trơ trụi, thấy rất nhiều lộc non nõn nà, xanh biếc nhu nhú, bật nở từ những lớp vỏ cằn cỗi. May mà mưa nên người thưa vắng hẳn. Vả lại, người ta còn mải đi hội, đi lễ, đi xin lộc đầu xuân. Chốn này có gì mà xin xỏ, cầu khẩn. Nếu có chỉ cầu may, xin chữ. “Chợ” bán chữ đã tan từ lâu. Mùa thi cử thì chưa tới, hóa nên các “cụ rùa” đá được yên thân. Ngỡ đang im lìm ngủ mê mệt, chìm trong mưa rả rích dưới mái ngói rêu phong. Lác đác dăm tốp du khách nước ngoài đội mưa, cầm ô, khoác áo. Thấp thoáng dưới mái hiên dãy bia tiến sĩ, chợt thấy một mái đầu bạc, lấm tấm những hạt mưa như những giọt sương vương đọng. Rét mướt, ướt át thế này, mà vẫn có người, một mình dầm mưa. Bất giác, ông già ngước nhìn lên gặp ánh mắt tôi thoáng chút ngỡ ngàng. Tôi bắt chuyện làm quen, hồi trước tôi hay vào đây tản bộ. Hoang sơ, vắng vẻ lắm. Nay, người ta sơn son đỏ rực, nhức mắt cứ như chùa chiền, miếu mạo bên Trung Quốc ấy. Chẳng cần rào đón, ông tiếp lời, như thể quen biết nhau từ lâu: Đã lâu lắm tôi mới vào đây, ngôi đền văn hóa thiêng liêng của cả nước mình. Thế mà, người ta phải chăng dây, ngăn bước. Nhưng ông thấy không, tất cả mọi đầu rùa đều nhẵn thín, mòn vẹt vì bao bàn tay tranh nhau xoa vuốt. Có người để trò chuyện, hàn huyên, tôi hào hứng hẳn: “Ông còn nhớ hồi chúng ta đi học, chiến tranh, bom đạn chả biết sợ. Nhưng làm gì cũng lo sợ cha mẹ, thầy cô buồn phiền, giận dữ. Lớn lên thành người thì sợ tà dương nắng xế, sợ nguyệt khuyết trăng tàn. Rồi sợ chớp bể mưa nguồn, sợ cái xấu, cái ác lấn át cái đẹp, cái chân thiện”. “Chí phải” - ông già nói - “Chính từ nỗi sợ, con người ta mới hướng thiện, hướng thượng. Biết sợ cái xấu, cái quả báo, thì khi ra đường có nhỡ va chạm cũng không đến mức “đấu khẩu”, đấu tay chân. Đánh nhau trong quán bia, bên bàn tiệc, đánh nhau ngay cả trong lễ hội. Say đánh nhau, tỉnh cũng choảng nhau. Tết nhất vừa rồi cả ngàn người nhập viện, cả chục người mất mạng…”.

Thật khó ngắt lời, ngăn được dòng cảm xúc của ông bốc lên mờ cả mắt kính. Ngẫu nhiên gặp người tri kỷ, tri âm giữa chiều mưa xuân, có lẽ là cái duyên chăng? Tôi lựa lời “hạ nhiệt” khuyên, Tết ra tôi với ông nên kiêng cữ, chẳng nên nói những chuyện không hay, sợ “giông” cả năm. Dạo này nhiều tờ báo in, báo mạng lại mở những trang diễn đàn, luận bàn xôn xao người Việt ngày càng trở nên hung hăng, bạo lực. Ứng xử giữa người và người trở nên căng thẳng. Có một số nhà xã hội học, tâm lý học chẳng ngại nói thẳng ra rằng, không hiếm lễ hội ở các vùng quê chỉ nghe tiếng đã thấy ghê người, rặt những “đâm, chém, cướp”: Nào là đâm trâu, chém lợn, cướp phết, cướp hoa tre, cướp lộc. Văn hóa ở đâu? Tháo cặp kính lão, nhìn những hạt mưa đan dày phủ kín mái đền, phủ đầy lá rụng, giọng ông nhẩn nha như thể nói với mình, chứ không phải với tôi: “Suy cho cùng, ai cũng có lỗi cả. Thú thật, tôi là nhà giáo. Tôi có lỗi chỉ chăm chú dạy chữ, coi nhẹ việc dạy người. Chỉ mải mê dạy thêm, học thêm, nhồi nhét kiến thức cả ngày lẫn đêm, mà quên mất việc dạy và học làm người cho học trò. Mỗi sáng đến trường bước lên bục giảng, cả thầy và trò đều nhìn thấy rõ khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn”. Nhưng dường như chẳng thấm vào đầu óc, hành động. Những thói hư, tật xấu ngoài xã hội, cả thói bạo lực đã theo đám trẻ tràn vào chốn học đường…”. Dưới mái đền Văn Miếu, lại được nghe lời “sám hối” của một ông thầy đã bạc đầu dạy bảo biết bao mái đầu xanh, tôi thú nhận mình cũng cảm thấy ngấm như “mưa dầm thấm lâu”. Quả thật người lớn đáng trách hơn trẻ con, tôi chia sẻ: “Chắc ông nghe xã hội xôn xao về clíp những nam, nữ sinh mặt còn “búng ra sữa”, ở tuổi đời trong trắng và thánh thiện, xông vào đấm đá túi bụi, phang cả chồng ghế vào đầu bạn học. Xót xa là, những bạn học còn lại vẫn dửng dưng, chỉ đứng nhìn, không một ai can ngăn hoặc gọi người cứu giúp. Kinh khủng hơn là, chính lớp trưởng cầm đầu và hành xử với nhiều bạn khác trong một thời gian dài mà giáo viên chủ nhiệm và nhà trường không hề hay biết”. “Không phải chỉ mình ông xót xa", ông giáo già ngắt lời, “tôi là thầy nên còn đau buồn đến day dứt khi nghe lời thú nhận của người cha cô bé: “Tôi là một người cha thất bại”. Thưa ông, đâu phải chỉ mình người cha đó thất bại. Bạo lực có căn nguyên, ẩu đả trên đường cũng có nguồn cơn của nó. Ấy chính là sự thất bại trong giáo dục con người của những thầy cô như tôi. Bấy nhiêu năm, chúng tôi quen miệng nói những điều sáo rỗng, thiếu hẳn các bài học nhân văn, rèn nhân cách, bồi đắp tâm hồn học trò…”. Tôi vẫn lắng nghe, chợt ông im lặng. Bên ngoài trời, mưa bỗng trút nước ào ạt, hắt tạt vào mái hiên. Mưa dấm dẳng, “ấm ức” suốt mấy ngày lê thê, giờ được dịp xả xuống, chẳng khác gì con người trút được nỗi niềm chứa chất trong đáy lòng. Mưa xối xả khiến mấy con chim sã cánh, bay vội vào trú dưới mái xà. Một đôi trai gái, dăm người lớn dắt trẻ chạy ào vào tránh mưa. Tôi và ông đành phải lùi vào một góc hẹp và tối, nhìn ra. Mấy vị khách trú mưa đang tranh thủ chụp những bức ảnh mà người ta gọi là “tự sướng”. Bá vai, khoác tay, ngả đầu bên những tấm bia đá. Thật không còn gì để nói. Tôi chỉ biết chép miệng nói với ông: “Quy hết việc dạy dỗ trẻ cho thầy, cô không hẳn đúng đâu. Còn bổn phận của gia đình, của xã hội nữa chứ! Cha mẹ không thể phủi tay, phó mặc cho nhà trường được. Một đứa con hư hỏng là một gia đình bất hạnh. Nhiều đứa trẻ hư hỏng là một xã hội tao loạn, đúng không?”.

Im lặng rất lâu giữa ông và tôi, hai người xa lạ. Gặp nhau thoáng chốc rồi chia tay, có khi chẳng bao giờ gặp lại, đến cái tên cũng không biết. Nhưng tâm sự có lẽ chưa san sẻ hết. Mưa đã dứt hẳn, ngoài đường đèn bật sáng bừng, đã đến lúc ai về đường nấy. Ông nắm chặt tay tôi hồi lâu như không muốn rời, giọng nói nghe chừng bớt nặng nề: “Nói được ra đâu phải để hả dạ, mà thật sự cảm thấy nhẹ nhõm. Tôi sực nhớ có ai đó đã ví văn hóa là “tấm áo” mà mọi người, từ trẻ đến già, người giàu cũng như kẻ nghèo đều mặc vừa vặn. Người ta lớn lên thì tấm áo đó cũng rộng ra. Không bao giờ cũ đi hay sờn rách phải “giật gấu vá vai”. Một đời người, ai mà chẳng phải thay đổi rất nhiều áo xống. Riêng tấm áo văn hóa dứt khoát không thể vứt bỏ, “có mới nới cũ” được…”. Thường khi chia tay, ai cũng nói điều lắng đọng, tâm đắc nhất như ông, tôi thầm nghĩ. Lúc này, tôi cảm thấy cạn lời, khó nói được gì, dù là “té nước theo mưa”. Dẫu vậy vẫn cố vớt vát dăm câu phụ họa cho đỡ hẫng hụt: “Quả thật, tấm áo văn hóa mà ông cha ta để lại cho chúng ta, cho con cháu… mặc vẫn hợp thời so với những chiếc áo của thiên hạ. Chỉ có điều, nó đang bị làm rách”.

Có thể bạn quan tâm