Ngục Kon Tum và dòng văn học cách mạng

Khi ấy, để cách ly một số chính trị phạm có uy tín và ảnh hưởng lớn trong phong trào đấu tranh đang ngày càng dâng cao ở các tỉnh miền trung, thực dân Pháp cho lập nhà ngục Kon Tum lưu đày biệt xứ số người này. Ngoài ra, chúng còn tận dụng tù nhân để mở đường 14 với sự hà khắc của chế độ lao tù. Cụ thể là 295 người đi Ðắc Pét đợt một thì đã 215 người đã chết.

Do vậy, đầu tháng 12-1931, khi cai ngục gọi người đi Ðắc Pét lần thứ hai thì gặp phải sự phản kháng kịch liệt. Ðỉnh điểm là sáng ngày 12-12-1931. Lính Pháp nã súng vào nhà ngục. Kết quả cuộc đấu tranh kiêu dũng ấy có tám người chết, tám người bị thương. Sử sách sau này gọi bằng cái tên hào tráng: - Cuộc "Ðấu tranh Lưu huyết"!

Số tù nhân còn lại tiếp tục tuyệt thực để phản kháng sự áp bức bất công. Và một lần nữa, vào ngày 16-12-1931, thực dân Pháp lại xả đạn vào lao tù giết chết bảy người và bảy người bị thương. Sau được gọi là cuộc "Ðấu tranh Tuyệt thực".

Tinh thần và phương hướng đấu tranh ấy được chính người trong cuộc đúc kết và biểu hiện thành những áng thơ văn để động viên nhắc nhở nhau luôn vững vàng khí tiết.

Theo những tài liệu và tư liệu có được hiện nay, gồm một bài Văn tế của tác giả Ðặng Thái Thuyến để truy điệu 215 người bỏ xác ven đường 14 trong đợt đi Ðắc Pét đầu năm 1931; hai bài thơ vịnh theo thể song thất lục bát, một của tác giả Hồ Văn Ninh, một của khuyết danh; còn lại tám bài thơ, trừ một bài khuyết danh viết theo thể thất ngôn liên hoàn, bảy bài kia đều theo thể thất ngôn bát cú của các tác giả Nguyễn Huy Lung, Hồ Tùng Mậu, Trịnh Quang Xuân, Võ Trọng Bành và khuyết danh. Có lẽ nên liệt thêm bài của bà Nguyễn Thị Du, người yêu Trương Quang Trọng, khi hay tin người yêu hy sinh. Nguyễn Thị Du đã lặn lội từ Quảng Ngãi lên Kon Tum tìm viếng. Trước nấm mồ tập thể tám liệt sĩ bà đã cảm kích viết ra.

Một dòng chảy của văn học cách mạng được hình thành ngay trong lòng nhà ngục Kon Tum kể từ tháng 6-1930 (là ngày đồng chí Ngô Ðức Ðệ - tù chính trị đầu tiên được đưa về biệt giam ở đây) đến tháng 12-1933 (ngày thực dân Pháp chuyển toàn bộ tù nhân sang nhà lao Buôn Ma Thuột). Trong ba năm rưỡi ấy, bao nhiêu xương máu, mồ hôi, nước mắt, bao nhiêu tinh lực, tâm huyết của họ đã thác vào những áng thơ văn để tạo tiền đề, làm cột mốc khởi điểm cho một dòng văn học viết ở Kon Tum vốn trước đó chưa hề có.

Ðầu tiên phải nói đến là bài Văn tế của Ðặng Thái Thuyến. Bằng một bút pháp già dặn, ngôn từ trau chuốt, hình ảnh chắt lọc và ý tưởng ngồn ngộn cảm hoài, bài Văn tế là một tác phẩm có giá trị nghệ thuật:

"Nhớ anh em xưa:

Sinh đất Hồng Lam/ Vốn dòng Âu Việt.

Tư thời hun đúc chí hy sinh/ Nết đất sẵn sàng lòng cảm quyết.

Kẻ đèn sách sớm khuya nghiên bút, miếng chung đỉnh đã kề môi gần miệng những nghĩ anh xơ em xác, vào luồn ra cúi, vinh thân mình như thể được là bao?/ Người ruộng trâu khuya sớm cày bừa, trải nắng mưa vừa miệng lủm tay vo, nghĩ khi thuế bắt sưu gia, đem của nuôi người, khô cái xác, nói ra càng thêm mệt".

Và đây là khí tiết đấu tranh sục sôi, bạo liệt của người cộng sản:

"Gặp hội cơ trời đổi lúc, mấy nghìn triệu anh em cùng cực khổ, hăm hở giơ liềm dựng búa, vỗ tay lên toan đòi lại lợi quyền/ Nhân nay cơ hội xui nên, bảy mươi năm chìm đắm đã chán chường, hiên ngang cổ cánh giương vây, cất đầu dậy quyết theo gương Xô-viết.

Có kẻ đứng treo cờ rải giấy, liều thân vàng vào tận chốn cơ nghiêm/ Có người ra đầu đạn mũi tên, hô quần chúng đứng lên kịch liệt.

Khí quốc dân càng tiến lại càng hăng/ Hồn đế quốc mỗi ngày thêm mỗi khiếp".

Những con người ấy chỉ qua sáu tháng ở Ðắc Pét, Ðắc Pao, dưới sự tàn bạo của lằn roi tù ngục đã không bao giờ trở lại! Bài văn tế buông vào lòng người đọc, người nghe một nỗi ngậm ngùi day dứt:

"Ngoảnh đầu lại mấy mồ lưu lạc, một vùng cỏ áy, nước non rầu rĩ khóc hồn oan/ Ðau lòng thay những kẻ điêu linh, nửa nắm đất vàng, cây cỏ ngậm ngùi thân tử biệt.

Truyện thiên cổ hỏi các hàng hào kiệt mấy ai mà hài cốt ở quê hương?/ Cuộc bách niên thương mấy bậc công khanh lấp đất cũng thảo vu cùng tuế nguyệt!".

Ðặng Thái Thuyến hy sinh ngay sáng ngày 12-12-1931. Sau khi bị thương, ông gượng dậy cầm ống xia đập vào đầu cai ngục nên bị tên này bắn bồi tiếp đến chết.

Một tác giả khác - người đầu tiên dũng cảm ra mặt đối đáp với cai ngục vào sáng 12-12-1931 - cũng hy sinh vào ngày lịch sử ấy, là Nguyễn Huy Lung. Những ngày trong ngục Kon Tum, Nguyễn Huy Lung làm bài thơ Gửi nhà thật cảm động: "Con xin thầy mẹ chớ phiền thương/ Suy tính lao lung - ấy sự thường/ Ðã quyết hy sinh cùng xã hội/ Lẽ nào quay mặt chốn quê hương/ Công nhà nhờ mẹ lo vun đắp/ Việc nước xin thầy nhớ đảm đương/ Việc nước ơn dày chưa trả đặng/ Con xin lấy máu tỏ can trường".

Hồ Tùng Mậu, một chiến sĩ cách mạng kiên trung, chính là một trong những người thành lập nhóm thơ "Tao đàn ngục thất" ngay trong nhà lao Kon Tum để sinh hoạt thơ văn, động viên tinh thần đồng chí, đồng đội. Ông còn để lại bài thơ Viếng mồ liệt sĩ: - "Tám mồ chiến sĩ táng kề nhau/ Nấm mới vun thêm, giậu mới rào/ Thể phách dẫu vùi miền đất trắng/ Tinh thần còn tỏ giữa trời cao/ Khí xông mất vía phường  cai trị/ Máu đổ kinh hồn tụi xếp lao? Sớm tối đi về lòng thổn thức/ Thấy người nằm đó nghĩ mình sao?".

Một tác giả khuyết danh khi hay tin ở khám lớn Sài Gòn tuyên án tử hình Tổng Bí thư Trần Phú đã có bài thơ Khóc Trần Phú rất xúc động và bi tráng: "Trần Phú anh ơi đã thác rồi/ Vô tình chi lắm hỡi anh ơi/ Bao phen sóng gió không sờn dạ/ Mấy trận búa rìu chẳng hở môi/ Giọt máu bất bình chan chứa nhỏ/ Hàng châu vô sản sụt sùi rơi/ Thân anh tuy thác gương còn rạng/ Chẳng phải như ai tiếng để đời"...

Ðiểm qua một số bài thơ để thấy có thể gọi đây là dòng văn học "Tao đàn ngục thất" - dòng văn học viết đầu tiên ở Kon Tum.

Có thể bạn quan tâm