Lời giải cho bài toán về chợ

Ngày nọ, về thăm bạn ở làng Vọng Nguyệt (Yên Sơn, Bắc Ninh), thấy bạn bảo muốn đi chợ Mai thì phải ngủ sớm, tôi đâm ra tò mò. Mờ đất hôm sau bạn đã gọi dậy, hai anh em mắt nhắm mắt mở đi chợ. Chợ họp gần giữa làng, trong ánh đèn le lói, chợ cũng ồn ào kẻ bán người mua. Thì ra chợ có tên chợ Mai vì họp lúc sớm mai, chỉ diễn ra trong vòng hơn một giờ, bày hàng nhanh, mua bán nhanh và tan chợ cũng nhanh. Mọi người tranh thủ đi chợ còn kịp về cơm nước rồi ra đồng, vào lúc việc nhà nông tất bật, thời gian dành cho việc đi chợ cũng không có nhiều.

Mấy năm sau, đến làng Bái Nại (Nga Sơn, Thanh Hóa), tôi lại gặp cái chợ có tên chợ Hôm. Chợ họp lúc xế chiều, khi các ngư phủ thu lưới từ biển trở về. Và mọi việc cũng diễn ra rất nhanh, chưa kịp tìm hiểu, vừa tới lúc lên đèn thì chợ đã tan. Nghe tôi kể về mấy cái chợ này, một người bạn bổ sung: hồi chị ở vùng Ðồng Giao - Ninh Bình, thấy có cái chợ tên là Chớp. Ðây là chợ của công nhân nông trường, họp vào lúc sớm mai, diễn ra "nhanh như chớp" để công nhân đi làm, ai không kịp đi chợ Chớp thì đi chợ Chiều, như kiểu chợ Hôm tôi kể ở trên.

Lại nghĩ, nếu làm một nghiên cứu đầy đủ, các chợ Mai, chợ Hôm, chợ Chớp, hẳn là cũng có một mối liên hệ nào đó với các chợ cóc, chợ xổm, chợ vồ vẫn thường gặp ở Việt Nam hôm nay. Tương tự như mấy chữ mai, hôm, chớp, mấy chữ cóc, xổm, vồ tự chúng đã chuyển tải cả tính chất, hình thức hoạt động của các chợ này. Mua bán nhanh, thu dọn cũng nhanh. Ở đây thường chỉ có các loại hàng hóa tiêu dùng cập nhật, như mớ rau, con cá, miếng bí, lạng thịt, củ khoai, cân đậu...

Nghĩa là những loại hàng hóa thiết yếu cho bữa ăn hằng ngày mà quỹ thời gian rỗi ngắn ngủi không cho phép nhiều người có thể đến với các khu chợ hoành tráng như chợ Ðồng Xuân, chợ Mơ, chợ Hôm (Hà Nội), chợ Sắt (Hải Phòng), chợ Rồng (Nam Ðịnh), chợ Ðông Ba (Huế), chợ Bến Thành (TP Hồ Chí Minh)... để sắm sanh.

Trong thực tế, các chợ cóc, chợ xổm, chợ vồ vốn không nằm trong quy hoạch, nghĩa là chúng hình thành tự nhiên và luôn phải thích ứng với sự xuất hiện bất chợt của người quản lý đô thị. Và thật kỳ tài, nếu mấy bác xe thồ, mấy chị hàng rau có thể nhanh tay dúi phương tiện, hàng hóa vào một xó xỉnh nào đó, hoặc cắm đầu cắm cổ chạy ra tứ phía, thì mấy cô hàng thịt vừa mới thấy chào mời đon đả vừa thoăn thoắt liếc con dao sáng loáng lên chiếc dũa tròn to bằng ngón chân, vậy mà thoáng có bóng nhân viên quản lý là đã thu dọn sạch bong thịt ba chỉ, chân giò... chỉ để lại cái bàn gỗ chỏng chơ.

Ðấy là chưa nói đến các gánh hàng rau bán rong. Hai cái mẹt ở hai đầu quang gánh, sắp xếp gọn gàng túi đậu trắng đậu đỏ, cân dưa chuột, bọc cà tím, khúc bí đao, túm hành hoa, mớ thơm mùi... Các gánh hàng rau bán rong có mặt trong mọi ngõ ngách, đưa hàng hóa đến tận nhà của người tiêu dùng, trở thành nguồn kiếm sống của nhiều người, đồng thời cũng là bạn hàng thân thiết của nhiều gia đình hàng phố. Họ có thể mua "chịu" của nhau vào lúc lỡ bữa, và đôi khi đến giờ mà chưa thấy gánh hàng rau đi qua, lại có người... nhớ nhớ!

Và, cũng phải đề cập tới các "khách thương hồ" đã và đang ngang dọc trên các kênh rạch miền nam. "Cửa hàng bách hóa di động" này được tổ chức trên thuyền, nay đây mai đó, đưa các loại hàng hóa tới mọi gia đình. Chiếc thuyền trông xa sặc sỡ như một sân khấu cải lương, đi tới đâu lại văng vẳng điệu hát, câu hò.

Các loại chợ hình thành một cách tự nhiên kể trên vẫn tồn tại bởi chúng có khả năng đáp ứng một cách tức thời, nhanh chóng nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của con người, phù hợp với vốn liếng thời gian mọi người có thể dành cho việc đi chợ. Ngoài các chợ đặc biệt mỗi năm chỉ họp đúng một lần (như chợ Viềng - Nam Ðịnh), xưa kia và cho đến ngày nay, các chợ phiên ở miền bắc và miền nam, vốn họp theo định kỳ năm ngày, bảy ngày hay theo tuần trăng (một tháng một phiên, hoặc một tháng hai phiên) thường đáp ứng việc mua bán các vật dụng lâu bền như cày bừa, liềm hái, hạt giống, nồi niêu xoong chảo, quần áo vải vóc, dầu đèn, muối, đồ khô...

Người đi chợ phiên, nếu mua đồ ăn thức uống tươi sống thì cũng chỉ để dùng trong vài ngày. Với một số chợ phiên, nhất là chợ phiên ở vùng cao, thì chợ còn kiêm luôn chức năng văn hóa, vì mọi người đến chợ còn để gặp gỡ, giao lưu, hát hò giao duyên, thậm chí là điều kiện để "bạn nhậu" gặp nhau chén chú chén anh. Cách đây không lâu, một ngày cuối năm, tôi qua chợ Bắc Hà (Lào Cai). Trời se se lạnh, bên những chị người Mông vừa đi vừa thoăn thoắt se lanh lại có đoàn xe Min-xcơ do các anh thanh niên người Mông cầm lái, vừa gầm rú phóng nhanh, vừa phun khói mịt mù. Rồi những chiếc lán lò rèn phì phào đỏ lửa, tiếng búa chí chát nhịp nhàng.

Chênh vênh trên sườn đồi, vài ba chiếc chảo thắng cố bốc khói nghi ngút, những bát mèn mén đã được bày ra, các bác hàng rượu xem chừng tất bật. Dưới cái sân xi-măng rộng rãi, các cuộc mua bán trao đổi đang vào hồi nhộn nhịp. Góc này hơn chục chú trâu đứng ủ rũ, chờ sang tay chủ mới. Góc kia dăm chú chó lừng lững như con bê, nằm phủ phục để canh chừng đám lợn "cắp nách" đuôi ngoáy tít chạy ra chạy vào. Giữa nhộn nhịp những chiếc áo Mông áo Dao, lại thấp thoáng bóng dáng mấy ông Tây bà đầm cao lớn, vừa giương ống kính máy ảnh, vừa gặm ngô luộc hoặc quả dưa núi to như cái phích một lít...

Ði giữa khu chợ vùng cao lại nghĩ đến lời một anh bạn làm dân tộc học kể rằng, cũng tại một cái chợ như thế này, ngày nọ người ta cho xây một loạt ki-ốt với ý định quy hoạch hoạt động trao đổi mua bán. Nhưng, rồi không có khách thương nào chịu vào. Từ núi cao xuống chợ, đem theo nắm sa nhân, túi thảo quả, xách con gà..., khách thương cần nhanh chóng và giản tiện, trao đổi hay mua bán rồi về, không có nhu cầu đặt chân vào các ki-ốt. Và mọi người vẫn cứ đứng ở đầu chợ để mời mua chai mật ong, bọc mộc nhĩ, túi ớt khô và liếc cái nhìn lãnh đạm vào dãy ki-ốt mốc thếch, đứng lẻ loi!

Xét đến cùng, các loại chợ truyền thống từ trước đến nay đều nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản và phù hợp với nông lịch hầu như ít biến đổi của kinh tế nông nghiệp. Lại nữa, khi kinh tế hàng hóa chưa phát triển, giao thương giữa các vùng dù lớn hay nhỏ, thường nhằm đáp ứng việc trao đổi, mua bán hàng hóa thiết yếu; còn vật dụng phục vụ nhu cầu hàng ngày, từ việc ăn uống đến cái kim sợi chỉ, con dao, cái nón, lá trầu quả cau, gói thuốc lào... đều do các chợ xóm, chợ làng đáp ứng.

Xưa kia, với nhiều cư dân làng xã, đến chợ huyện không phải là chuyện thường xuyên, thậm chí có người cả đời chưa đặt chân đến chợ huyện. Nếu coi chợ làng là bộ mặt vật chất - tinh thần của một làng cùng vài làng chung quanh, thì chợ huyện cũng là bộ mặt vật chất - tinh thần của cả huyện. Một thời, hình ảnh cô hàng xén ở chợ huyện đã chuyển tải trong đó vai trò một thương nhân nhỏ, đồng thời còn là cái gì đó mang nét thi vị mà nhiều trai làng, trai phố huyện vẫn ước mơ.

Ngày nay, một mặt do quan hệ kinh tế - văn hóa đã phát triển trên phạm vi rộng, một mặt do đời sống khấm khá hơn trước, tại nhiều làng ở đồng bằng và nhiều bản ở miền núi đã xuất hiện một số nông dân, hộ nông dân đã và đang trong quá trình doanh nhân hóa, tiểu thương hóa theo hướng kinh doanh, thương mại. Từ công việc họ đã làm, có thể nói, họ đã góp phần đẩy tới sự biến đổi trong các sinh hoạt kinh tế hàng ngày ở nhiều vùng nông thôn. Họ mua máy cày, ô-tô vận tải để cho thuê. Họ sắm máy xay xát phục vụ bà con lối xóm. Họ mở cửa hàng tạp hóa, cửa hàng bán nông cụ, phân bón, thuốc trừ sâu, giống má, thậm chí một số nông hộ đã trở thành đại lý bán đồ điện tử, đại lý thức ăn gia súc, đại lý bán gas.

Cần nói thêm là ở một số nơi, với cửa hiệu sửa chữa xe máy và điện thoại, hiệu may, quán internet (thậm chí quán karaoke, quán bia),... xóm làng trở nên rộn rã, nhộn nhịp hơn. Sức sống mới cùng sự phong phú về đời sống vật chất - tinh thần đã và đang là một thực tế ở nhiều làng xã.

Nhưng, dẫu thế nào thì sức sống, sự phong phú ấy vẫn chưa đáp ứng được tất cả các nhu cầu. Mớ rau, con cá, miếng thịt, củ su hào, cân cà chua... - thực phẩm hằng ngày, vẫn cần chợ xóm, chợ làng cung cấp. Với hơn 70% số dân sống ở nông thôn, trực tiếp sản xuất nông nghiệp như hiện nay, có lẽ chợ xóm, chợ làng còn đóng một vai trò nhất định, vì chúng gắn liền với cuộc sống hàng ngày. Vấn đề là tổ chức như thế nào để sinh hoạt mua bán ở các chợ xóm, chợ làng không làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất nói chung.

Ở vùng đô thị, nhất là ở các đô thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Ðà Nẵng, Hải Phòng... đến hôm nay, việc đi siêu thị mua thức ăn cho cả tuần, hay có người giúp việc đi chợ theo thực đơn do chủ nhà kê sẵn vẫn chưa là phổ biến, số đông người Việt Nam ở đô thị vẫn lo lấy việc cơm nước theo nguyên tắc tươi - sống và cập nhật. Quỹ thời gian cùng thói quen sử dụng hai thực phẩm có tính truyền thống trong bữa ăn hàng ngày là rau và cá xem ra khó có thể thích nghi với sự tích trữ, và dường như cũng không thích hợp với siêu thị được khai trương khá nhiều trong thời gian gần đây.

Vì thế, trừ hai ngày nghỉ cuối tuần, đa số các bà, các chị nội trợ chỉ có thể đến chợ vào lúc sáng sớm hoặc xế chiều (tuy vẫn có một số chị em tranh thủ trong giờ làm việc tạt ra chợ mua con cá mớ rau về giấu sau cánh cửa!). Những siêu thị lớn xem ra mới chỉ thu hút cư dân ở một địa bàn, và thường vắng vẻ vào giờ hành chính. Các khu chợ cao tầng mới xây dựng hoặc được cải tạo thường được bố trí như là bản sao từ một mô hình: tầng một gồm quầy quần áo, túi cặp, đồ điện tử, hàng khô; tầng hai vẫn quầy bán đồ điện tử, vải vóc, đồng hồ... nhưng cao cấp hơn; tầng ba trở lên là vài ba văn phòng công ty cùng các hiệu sửa sang sắc đẹp, trung tâm thể dục thể hình treo biển quảng cáo có anh lực sĩ cơ bắp cuồn cuộn.

Lý thú nhất là chung quanh các khu chợ cao tầng như vậy, ở đâu cũng thấy một vành đai của các hàng rau, cá, gà, lợn... Ðó là nơi khi chiều về, các chị nội trợ dừng xe đạp, ghé xe máy mua lấy lạng thịt, mớ rau cho bữa cơm chiều, mà không phải gửi xe. Nghĩa là cho đến hôm nay, mô hình chợ theo lối hiện đại vẫn chưa thật sự thuyết phục người tiêu dùng, và vì thế, các khu chợ cao tầng mới xây ở nhiều đô thị dần dà biến thành trung tâm bách hóa nhiều hơn là chợ!

Sau một thời gian tiến hành đô thị hóa ở cả thành thị lẫn nông thôn, chúng ta đã làm được khá nhiều  việc để xây dựng một phong cách sinh hoạt mới cho xã hội hiện đại, nhưng xem ra câu hỏi "chợ sẽ tồn tại như thế nào?" vẫn là một bài toán khó giải. Nếu như ở cái chợ vùng cao kia, địa phương đã không thành công khi xây ki-ốt để đưa một sinh hoạt "kinh tế tự nhiên" vào quy củ, thì đối với chợ ở vùng đô thị, cho đến hiện tại vẫn còn rất nhiều vấn đề đang được đặt ra.

Trước mắt, khi thức ăn nhanh (fastfood) và việc mua sắm ở các siêu thị chưa trở thành thói quen của số đông dân chúng và nếu một ngày các khu chợ hiện đại ra đời như chưa phải là kết quả khảo sát khoa học về thực phẩm truyền thống, về nhu cầu đi chợ, về thời gian biểu hàng ngày, về đặc điểm của người Việt trong việc tổ chức bữa ăn... thì ngày ấy trật tự đô thị còn nhiều bề bộn.

Ngày nay, một quy hoạch tiên tiến trong bất kỳ lĩnh vực nào của xã hội cũng không thể ra đời từ những tính toán cảm tính, ngẫu hứng, manh mún, thiếu điều tra chi tiết, cụ thể. Thiết nghĩ, đã đến lúc cần xem xét việc tổ chức mạng lưới chợ ở cả đô thị và nông thôn Việt Nam sao cho phù hợp với đời sống hiện đại, qua đó tạo nên một diện mạo mới cho hệ thống chợ, đồng thời đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu hằng ngày của nhân dân.

Có thể bạn quan tâm