Từ một chuyến đi của 39 nghệ nhân Việt Nam, trình diễn đầy ấn tượng trước hàng triệu lượt người tham gia Lễ hội đời sống dân gian Smithsonian 2007 tại Thủ đô Washington (Mỹ), và những câu chuyện, những ghi nhận của người trong cuộc (các nhà khoa học, nghệ nhân, nhà quản lý văn hóa...) mang lại những kinh nghiệm quý giá đối với hoạt động nghiên cứu và bảo tồn di sản, nhất là những giá trị văn hóa phi vật thể của Việt Nam.
Từ cơ hội...
Lễ hội đời sống dân gian Smithsonian là một trong những lễ hội có quy mô lớn nhất trong hàng trăm lễ hội diễn ra hằng năm trên đất Mỹ. Lễ hội được tổ chức định kỳ trong khoảng 10 ngày vào dịp cuối tháng sáu, đầu tháng bảy. Theo ghi nhận của Ban tổ chức, mỗi kỳ lễ hội thường thu hút khoảng 1 - 1,5 triệu lượt khách tham dự. Ðây cũng là lễ hội mà công tác tổ chức, chuẩn bị được tiến hành rất bài bản, công phu, với mỗi kỳ lễ hội đều có một số chủ đề trưng bày, trình diễn được chọn lọc và tiến hành nghiên cứu trong thời gian dài.
Ðoàn nghệ nhân Việt Nam tham gia lễ hội năm 2007 được lựa chọn nằm trong chủ đề trưng bày, trình diễn: Mê Công- dòng sông kết nối các nền văn hóa, cùng với các quốc gia Lào, Cam-pu-chia, Thái-lan và Trung Quốc.
Sau khi lựa chọn chủ đề, từ năm 2003, các chuyên gia của Trung tâm đời sống dân gian và Di sản văn hóa thuộc Viện Smithsonian đã sang Việt Nam, hướng dẫn các cán bộ nghiên cứu văn hóa của Việt Nam khảo sát tại các địa phương liên quan đến sông Mê Công để tìm hiểu, đề cử các loại hình văn hóa tham gia lễ hội.
Dựa trên các tiêu chí: phải là văn hóa dân gian; có tính hấp dẫn, đa dạng; có liên quan, gắn kết với nhau và đại diện cho khu vực sông Mê Công; đại diện cho phần lớn tộc người địa phương và quan trọng hơn nữa là phải bảo đảm khả năng trình diễn hoàn chỉnh trong lễ hội, các chuyên gia đã lựa chọn từ 50 loại hình văn hóa được các địa phương đề cử, còn lại 11 loại hình, gồm năm nghề thủ công: nghề đan gùi và đẽo thuyền độc mộc (người Rơ Ngao - Kon Tum), nghề dệt (người Chăm - An Giang), đan dụng cụ đánh bắt cá (người Thái - Ðiện Biên), nghề làm bánh (người Kinh - Cần Thơ); và sáu loại hình nghệ thuật dân gian: sử thi và cồng chiêng (người Rơ Ngao - Kon Tum), đờn ca tài tử (người Kinh - Bạc Liêu), hát bội (người Kinh - Vĩnh Long), nghệ thuật sân khấu Rô băm (người Khmer - Sóc Trăng), múa lân (người Hoa - Bạc Liêu).
... đến những ghi nhận
Lật lại vấn đề này, bởi đây là lần đầu tiên chúng ta được tham gia và học hỏi công nghệ tổ chức sự kiện văn hóa của một lễ hội có uy tín trên thế giới. Ðó không chỉ là cơ hội rất quý giá để giao lưu, giới thiệu những nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam với thế giới, theo TS Ðặng Văn Bài, Cục trưởng Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), lễ hội Smithsonian 2007, thực chất là một cuộc đối thoại văn hóa giữa các nghệ nhân của nhiều truyền thống văn hóa, nhiều dân tộc, đến từ nhiều vùng địa lý khác nhau trên lưu vực sông Mê Công, và giữa họ với hơn một triệu công chúng Mỹ đến thưởng thức các loại hình nghệ thuật truyền thống của các dân tộc khác nhau.
Qua cách thức tiến hành việc tổ chức lễ hội, có thể nhận thấy mục đích mà các nhà tổ chức muốn hướng đến, là để nâng cao năng lực cộng đồng cũng như năng lực cán bộ thuộc các tổ chức văn hóa của khu vực và những người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa dân gian của các cộng đồng châu Á trên đất Mỹ về lĩnh vực bảo vệ di sản văn hóa và văn hóa dân gian. Những điều này cũng có tác động tích cực đến nhận thức của cả đội ngũ cán bộ văn hóa Việt Nam tham gia trực tiếp dự án, và tác động không nhỏ đến nhận thức và hành động của các nghệ nhân cũng như cộng đồng có di sản được mời tham gia.
Ngay từ khâu chuẩn bị nội dung cho lễ hội, chọn chủ đề và nghệ nhân trình diễn đã được tiến hành chu đáo, kỹ lưỡng, trên cơ sở những hiểu biết sâu sắc của các chuyên gia văn hóa. Ðối tượng được quan tâm hàng đầu là các loại hình văn hóa đang diễn ra trong đời sống các dân tộc và chủ thể văn hóa là người tự giới thiệu về di sản của mình.
Do phải cân nhắc đến yếu tố lễ hội, nên khả năng trình diễn đáp ứng phần "xem" cũng là một tiêu chí trong việc chọn lựa hình thức tham gia, và ngay cả khi đã chọn lựa rồi, nghệ nhân cũng được chú ý nâng cao khả năng trình diễn tự nhiên, sinh động. Trong khi, tại nhiều lễ hội của Việt Nam, yếu tố chuyên nghiệp lại thường được ưu tiên, hoặc ngay cả các nghệ nhân dân gian đích thực cũng thường bị hướng dẫn biểu diễn rất bài bản, làm mất đi sự giản dị, hồn nhiên vốn có.
Hình thức tổ chức lễ hội cũng hết sức độc đáo. Các nghệ nhân được sắp xếp vị trí và thời gian biểu diễn chính xác, chặt chẽ, giữa một không gian mở phù hợp với văn hóa dân gian là quảng trường Mall rộng lớn, tươi tắn sắc mầu thiên nhiên với những hàng cây cổ thụ và thảm cỏ xanh mướt. Các nghệ nhân có thể thoải mái tái hiện những công việc thường ngày vốn rất quen thuộc của mình, và hướng dẫn những người khách tham quan cùng tham gia. Nhiều người Mỹ, Canada và Việt kiều đã hào hứng xếp hàng thử đánh cồng chiêng, nếm thử món bánh xèo hay ngồi vào khung dệt...
Cùng với rất nhiều kinh nghiệm đúc rút được về công tác quản lý dự án, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ thực hiện, khả năng marketing thu hút khách du lịch... phương pháp tiếp cận của các nhà khoa học Viện Smithsonian cũng có nhiều khác biệt.
Với họ, mọi câu chuyện đều phải bắt đầu từ thực tế cộng đồng: từ xây dựng dự án, điền dã, trao đổi và xây dựng chương trình trình diễn đều được tiến hành từ cộng đồng. Trong khi, quy trình này lại đang được chúng ta tiến hành theo chiều hướng ngược lại.
Với quan niệm về lễ hội dân gian: không tái tạo quá khứ mà tạo môi trường để tiếp nối truyền thống, là bảo tàng thiên nhiên, cùng những hiệu quả trong quá trình tổ chức và tác động đến đời sống di sản trong cộng đồng, Lễ hội Smithsonian là một mô hình tiêu biểu cho hình thức tổ chức lễ hội đời sống dân gian nói riêng, lễ hội văn hóa nói chung.