Hồi sinh những cánh đồng sau lũ

Dọc lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn tại thành phố Đà Nẵng, biến đổi khí hậu đã gây thiệt hại nặng nề đối với đời sống và sản xuất của người nông dân.

Vùng chuyên canh rau Bàu Tròn (xã Đại Lộc) hồi sinh sau lũ.
Vùng chuyên canh rau Bàu Tròn (xã Đại Lộc) hồi sinh sau lũ.

Tìm hướng hồi sinh những cánh đồng sau lũ không chỉ đơn thuần là việc khôi phục sản xuất trước mắt, mà còn là bài toán thích ứng với thiên tai lâu dài.

Một năm khắc nghiệt

Từ bao đời nay, hệ thống sông Vu Gia-Thu Bồn cùng mạng lưới chi lưu tại thành phố Đà Nẵng (Quảng Nam trước đây) miệt mài bồi đắp phù sa cho những cánh đồng trù phú. Với những lão nông tri điền xứ Quảng, dòng nước phù sa là niềm hy vọng cho đồng thêm tốt, nhà nhà thêm vui. Nhưng từ khi biến đổi khí hậu cực đoan, dòng sông mẹ Vu Gia và Thu Bồn trở nên hung dữ hơn. Trong năm 2025, chỉ riêng đợt thiên tai từ ngày 25/10 đến ngày 20/11, Đà Nẵng đã thiệt hại khoảng 3.800 tỷ đồng; 5 đợt lũ khiến nhiều diện tích lúa, rau màu, cây ăn quả bị ngập úng, hư hỏng, nhiều nơi bị bồi lấp nghiêm trọng.

Tại xã Gò Nổi, cánh đồng rau màu đã bị cát bồi lấp phần lớn diện tích. Gia đình ông Phạm Phú Thành (thôn Tân Bình, xã Gò Nổi) sau khi phải hứng chịu 5 đợt lũ liên tiếp, 3 sào ruộng nay chỉ còn canh tác được 1 sào, 1 sào ven bờ sông Thu Bồn bị sạt lở trôi theo dòng nước, 1 sào bị cát bồi lấp nghiêm trọng. Trên sào ruộng cuối cùng còn lại, ông Thành đành trồng đậu phộng với hy vọng “còn nước còn tát”. Trồng đậu phộng, phải chăm sóc rất vất vả cây mới sống nổi. “Sào ruộng bị cát bồi muốn canh tác được có khi phải đào xúc đi cả mét. Năm nay mà cứ đà lũ như năm trước thì thua luôn”, ông Thành chia sẻ.

Dọc bờ sông, những núi cát khổng lồ được người dân Gò Nổi nhọc nhằn gom lại, nhưng vẫn chưa thấm vào đâu so với diện tích bồi lấp. Nhọc nhằn bổ từng nhát cuốc xuống nền đất khô khốc, bà Phạm Thị Yến (thôn Tân Bình, xã Gò Nổi) bộc bạch: “Ngày xưa, đất đai khu vực này cằn cỗi lắm, dân quê ở đây thường gọi là “gân đất”. Mất bao năm phù sa sông Thu Bồn mới bồi đắp thành một lớp đất màu mỡ, tơi xốp. Thế mà đợt lũ năm rồi, phù sa cuốn trôi đi mất, đất lại trở về với phần “gân đất” ngày xưa. Giờ muốn trồng trọt được, phải đổ mồ hôi cải tạo, phân bón thì cây mới lên nổi. Chúng tôi chỉ mong chính quyền địa phương nhanh chóng dọn dẹp phần cát đang bồi lấp”.

Theo Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm Khuyến nông thành phố Đà Nẵng Nguyễn Đình Vương, công tác khôi phục sản xuất nông nghiệp của người dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng sau mưa lũ đang đối mặt với những thách thức chủ yếu như: thiệt hại nặng nề về cơ sở vật chất và hạ tầng sản xuất; khó khăn về vốn và chi phí đầu vào; nguy cơ phát sinh dịch bệnh và hạn chế về kỹ thuật khắc phục; tác động của biến đổi khí hậu và thời tiết ngày càng bất thường. Diễn biến mưa lũ khó lường, trái quy luật khiến việc bố trí lịch thời vụ, lựa chọn giống cây trồng, vật nuôi gặp nhiều rủi ro, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả phục hồi sản xuất và tâm lý đầu tư của người dân.

“Sống chung” với lũ

Gác lại những mất mát và khó khăn, ngay sau khi lũ rút, nhiều hộ nông dân tại các vùng rốn lũ của Đà Nẵng đã hối hả trở lại đồng, tất bật cải tạo, xuống giống nhằm nhanh chóng khôi phục sản xuất nông nghiệp. Trong bối cảnh đó, hệ thống khuyến nông từ thành phố đến cơ sở đã có mặt rất sớm tại các vùng bị ảnh hưởng, đồng hành cùng nông dân trong suốt quá trình khắc phục với nhiều hình thức hỗ trợ kịp thời và đúng nhu cầu.

Trung tâm Khuyến nông thành phố Đà Nẵng đã hỗ trợ phân bón, chế phẩm sinh học, hóa chất sát trùng giúp nông dân ổn định sinh kế, khôi phục sản xuất sau thiên tai; đồng thời, tổ chức 23 lớp tập huấn tại các địa phương, hướng dẫn các biện pháp phục hồi đất sản xuất, khôi phục cây trồng, vật nuôi, phòng chống dịch bệnh sau thiên tai và xử lý vệ sinh môi trường.

Trung tâm Khuyến nông thành phố Đà Nẵng đã hỗ trợ phân bón, chế phẩm sinh học, hóa chất sát trùng giúp nông dân ổn định sinh kế, khôi phục sản xuất sau thiên tai; đồng thời, tổ chức 23 lớp tập huấn tại các địa phương, hướng dẫn các biện pháp phục hồi đất sản xuất, khôi phục cây trồng, vật nuôi, phòng chống dịch bệnh sau thiên tai và xử lý vệ sinh môi trường.

Trong nhịp sống đang hồi sinh đó, phù sa cũng dần “phát lộ” trên nhiều cánh đồng ven sông Vu Gia và Thu Bồn, nhen nhóm niềm hy vọng từ chính sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Đơn cử, tại vùng chuyên canh rau Bàu Tròn (xã Đại Lộc) nằm bên dòng sông Vu Gia, nhiều nông dân ghi nhận nền đất trở nên màu mỡ hơn sau đợt lũ vừa qua.

Đứng bên hàng ớt tươi tốt, ông Lê Thành (thôn Phú Phước, xã Đại Lộc) lạc quan nói: “Ông trời vẫn còn thương. Mấy năm trước ớt khó lên lắm, năm nay lại tốt tươi. Đất ở đây mà lụt là có phù sa, mà phù sa về là cây phát triển tốt. Chưa biết giá cả ra sao chứ nhìn cây phát triển tốt là mình ưng cái bụng”. Theo ông Thành, bên cạnh kỹ thuật canh tác, thổ nhưỡng vẫn giữ vai trò quyết định.

2.png
Nông dân xã Gò Nổi khôi phục sản xuất nông nghiệp.

Quá trình hình thành và phát triển của làng rau Bàu Tròn cũng cho thấy, chính nhờ dải phù sa bồi đắp từ dòng Vu Gia cùng độ ẩm lý tưởng mà người dân nơi đây có thể canh tác từ 5 đến 6 vụ mỗi năm. Thế nhưng, trước sự thất thường của khí hậu, niềm vui về đất phù sa của ông Thành vẫn xen lẫn nỗi lo âu phía trước khi thiên tai ngày càng dữ dội và dồn dập. “Được chỗ này lại mất chỗ kia. Nơi được phù sa, nơi cát bồi lấp, nên làm nông đôi khi vẫn phải phó mặc cho trời là vậy. Mùa vụ thì có hẹn, chứ lũ lụt thì đời nào hẹn trước với nông dân để mà ứng phó” ông Thành bùi ngùi nói.

Ông Nguyễn Đình Vương cho hay, bên cạnh việc hỗ trợ khôi phục sản xuất trước mắt, Trung tâm Khuyến nông xác định nhiệm vụ trọng tâm, lâu dài là phải giúp nông dân chủ động nâng cao khả năng thích ứng với các loại hình thiên tai ngày càng phức tạp. Nhiều nông dân cho rằng, trong nông nghiệp, lũ lụt không đơn thuần chỉ là thiên tai, mà còn là một “chu kỳ dinh dưỡng” cho đất.

“Thời gian tới, Trung tâm sẽ triển khai một số giải pháp trọng điểm như: định hướng lại cơ cấu sản xuất theo hướng thích ứng với thiên tai và biến đổi khí hậu, lấy nhu cầu thực tế của nông dân làm trung tâm; nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp an toàn, bền vững và kinh tế tuần hoàn gắn với quản lý rủi ro thiên tai; tăng cường tập huấn, đào tạo và nâng cao năng lực cho nông dân, đặc biệt là kỹ năng phòng ngừa, ứng phó và khôi phục sản xuất sau thiên tai,… Từ đó, từng bước giúp nông dân thành phố Đà Nẵng chủ động hơn trong sản xuất, giảm rủi ro và thiệt hại do thiên tai gây ra, nâng cao khả năng thích ứng và phát triển nông nghiệp theo hướng an toàn, hiệu quả và bền vững”, ông Vương khẳng định.

Có thể bạn quan tâm