Diễn đàn thu hút đông đảo đại diện cơ quan quản lý, tổ chức tài chính, hiệp hội ngành nghề, doanh nghiệp và nhà đầu tư tham dự, tập trung bàn giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn về vốn, mở rộng các kênh huy động nguồn lực cho nền kinh tế trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân hai con số giai đoạn 2026-2030.
Khơi thông dòng vốn cho giai đoạn tăng tốc phát triển
Phát biểu ý kiến tại diễn đàn, ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho rằng, giai đoạn 2026-2030 là thời kỳ Việt Nam phải tăng tốc mạnh mẽ để vượt qua bẫy thu nhập trung bình, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.
Theo ông Hoàng Quang Phòng, để hiện thực hóa mục tiêu đó, bài toán then chốt là khơi thông các dòng vốn cho đầu tư phát triển. Nhu cầu vốn cho hạ tầng bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu và chuyển đổi kinh tế được các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ước tính khoảng 15-17 tỷ USD mỗi năm, trong khi ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng được khoảng 30-35%.
Phó Chủ tịch VCCI nhấn mạnh khu vực kinh tế tư nhân đang ngày càng giữ vai trò động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế, không chỉ đóng góp lớn vào GDP mà còn tiên phong đổi mới sáng tạo, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. “Việc tháo gỡ điểm nghẽn về vốn không chỉ tiếp sức cho doanh nghiệp mà còn tạo đòn bẩy cho cả nền kinh tế trong giai đoạn tăng tốc mới”, ông Hoàng Quang Phòng nhấn mạnh.
Theo ông Nguyễn Phi Lân, Vụ trưởng Vụ Dự báo Thống kê, Ổn định Tiền tệ Tài chính (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, kinh tế thế giới đang tiếp tục đối mặt nhiều bất định lớn từ xung đột địa chính trị, áp lực lạm phát và biến động giá năng lượng, gây ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường tài chính toàn cầu.
Trong bối cảnh đó, việc khơi thông dòng vốn cần được thực hiện hài hòa giữa yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính. Ông Nguyễn Phi Lân khuyến nghị doanh nghiệp cần nâng cao năng lực quản trị tài chính, minh bạch thông tin, sử dụng vốn đúng mục đích và chủ động đa dạng hóa nguồn vốn thay vì phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng.
Theo ông Nguyễn Phi Lân, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý, ưu tiên tín dụng cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đồng thời phối hợp chặt chẽ các bộ, ngành để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp tiếp cận vốn.
Đa dạng hóa kênh dẫn vốn, giảm phụ thuộc tín dụng ngân hàng
Tại diễn đàn, nhiều chuyên gia nhận định mục tiêu tăng trưởng hai con số trong nhiều năm tới sẽ đòi hỏi lượng vốn đầu tư rất lớn, đồng thời yêu cầu thay đổi căn bản cấu trúc huy động vốn của nền kinh tế.
Tiến sĩ Đỗ Thiên Anh Tuấn, Giảng viên cao cấp Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright cho biết, để đạt mục tiêu tăng trưởng khoảng 10% trong giai đoạn tới, nền kinh tế có thể cần tới khoảng 40 triệu tỷ đồng vốn đầu tư nếu tính cả yếu tố lạm phát.
Theo Tiến sĩ Đỗ Thiên Anh Tuấn, hiệu quả sử dụng vốn của Việt Nam hiện chưa cao, thể hiện qua hệ số ICOR ở mức 5-6. Do đó, bên cạnh mở rộng quy mô vốn đầu tư xã hội lên khoảng 40% GDP, Việt Nam cần cải thiện mạnh hiệu quả sử dụng vốn.
Ông nhấn mạnh, trong cơ cấu nguồn lực, khu vực kinh tế tư nhân phải trở thành động lực chủ đạo, đóng góp khoảng 60% tổng vốn đầu tư xã hội, trong bối cảnh dư địa tăng vốn FDI không còn nhiều do cạnh tranh khu vực ngày càng gay gắt.
Đồng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Hữu Huân, cho rằng, nền kinh tế Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng, khiến tỷ lệ tín dụng/GDP ở mức cao và tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Theo Nguyễn Hữu Huân, để duy trì tăng trưởng hai con số trong dài hạn, Việt Nam cần nhanh chóng phát triển thị trường vốn và hình thành Trung tâm tài chính quốc tế nhằm thu hút dòng vốn toàn cầu.
Ông cho biết, mô hình Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam đang được xây dựng theo hướng “một trung tâm, hai điểm đến” tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, với định hướng ứng dụng mạnh công nghệ blockchain và trí tuệ nhân tạo để tạo lợi thế cạnh tranh mới.
Ông Nguyễn Hữu Huân thông tin, khoảng 80-90% giao dịch tài chính hàng hải liên quan tới các cụm cảng lớn của Việt Nam hiện vẫn được thực hiện tại Singapore và Hong Kong, với quy mô ước tính hơn 1.000 tỷ USD mỗi năm. Việt Nam đặt mục tiêu thu hút khoảng 30% lượng giao dịch này về nước thông qua Trung tâm tài chính quốc tế.
Tạo hệ sinh thái vốn đa tầng cho doanh nghiệp
Nhiều ý kiến tại diễn đàn cũng cho rằng, để dòng vốn được lưu thông hiệu quả, cần phát triển đồng bộ các kênh dẫn vốn trung và dài hạn, bao gồm thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư và nguồn vốn quốc tế.
Ông Trịnh Sơn Hồng, Quyền Chủ tịch Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, đánh giá việc thị trường chứng khoán Việt Nam được FTSE Russell nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp dự kiến từ tháng 9/2026 sẽ mở ra cơ hội lớn để thu hút dòng vốn quốc tế, hỗ trợ doanh nghiệp huy động vốn dài hạn.
Tuy nhiên, áp lực rút ròng của khối ngoại cùng những biến động toàn cầu vẫn đặt ra không ít thách thức đối với mục tiêu nâng vốn hóa thị trường lên mức tương đương 100% GDP.
Trong khi đó, đại diện các doanh nghiệp và chuyên gia tài chính cho rằng, niềm tin và tính minh bạch là điều kiện tiên quyết để khơi thông các dòng vốn trung-dài hạn. Các doanh nghiệp cần nâng cao chuẩn mực quản trị, minh bạch tài chính và sử dụng vốn hiệu quả để tiếp cận tốt hơn các nguồn vốn từ thị trường trái phiếu, quỹ đầu tư, quỹ tín thác bất động sản (REIT), các thương vụ M&A và dòng vốn xanh quốc tế.
Diễn đàn cũng ghi nhận nhiều đề xuất về phát triển tài chính xanh, thúc đẩy thị trường trái phiếu hạ tầng, hoàn thiện cơ chế PPP và xây dựng các sàn giao dịch hàng hóa quy mô lớn nhằm gia tăng năng lực định giá và kiểm soát dòng tiền cho doanh nghiệp Việt Nam.
Các đại biểu nhận định, trong bối cảnh nền kinh tế bước vào giai đoạn tăng trưởng mới với yêu cầu cao hơn về chất lượng và tính bền vững, việc xây dựng hệ sinh thái vốn đa tầng, đa kênh sẽ là nền tảng quan trọng để khơi thông nguồn lực xã hội, nâng cao sức chống chịu của doanh nghiệp và tạo động lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số những năm tới.