“Giấc mơ” làm chủ công nghệ thông tin-tín hiệu đường sắt

Đối với ngành đường sắt, hệ thống thông tin-tín hiệu được coi là “bộ não, hệ thần kinh trung ương”, quyết định năng lực tổ chức vận tải, mức độ an toàn cao.

Hệ thống thiết bị cảm biến cảnh báo tự động tại Km311+400 giúp an toàn cho các phương tiện.
Hệ thống thiết bị cảm biến cảnh báo tự động tại Km311+400 giúp an toàn cho các phương tiện.

Thời gian qua, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR) đã dày công nghiên cứu, tích hợp nhiều công nghệ hệ thống thông tin để điều độ chạy tàu hiện hữu và hướng tới tự chủ công nghệ, sẵn sàng tiếp nhận quản lý, vận hành, khai thác và chuyển giao công nghệ các dự án đường sắt mới và đường sắt tốc độ cao.

Đồng bộ hóa hệ thống thông tin-tín hiệu

Công ty cổ phần Thông tin tín hiệu đường sắt Hà Nội hiện đang quản lý 600km đường sắt đi qua địa bàn 6 tỉnh, thành phố phía bắc. Theo Giám đốc công ty Bùi Tiến Sỹ, các tuyến được đầu tư hệ thống thông tin-tín hiệu khác nhau, thậm chí cùng một tuyến vẫn “chắp vá” nhiều loại công nghệ, cải tạo, nâng cấp bằng nhiều nguồn vốn khác nhau.

Đơn cử, tuyến đường sắt bắc-nam từ Hà Nội đến ga Đồng Giao (Ninh Bình) sử dụng liên khóa điện tử SSI của liên danh nhà thầu Alstom (Pháp), còn một số tuyến khác dùng hệ thống liên khóa rơ-le 6502 (hệ thống tự động của Trung Quốc).

Nhiều hệ thống thiết bị quá lạc hậu, không còn sản xuất khiến đơn vị quản lý gặp khó khăn trong bảo trì, khi đặt hàng bị đối tác nước ngoài “ép giá”, đẩy mức nâng cấp, chế tạo lên hàng trăm tỷ đồng.

Trước thực tế này, các kỹ sư của VNR đã nghiên cứu, từng bước thiết kế, chế tạo, thi công lắp đặt, đồng bộ hóa hệ thống thông tin-tín hiệu trên các tuyến đường sắt hiện hữu đang khai thác, có tính năng tương đương công nghệ của các nước đường sắt phát triển, giảm dần phụ thuộc nước ngoài; giảm bớt nhân lực bảo trì và điều hành tại các ga, trung tâm điều hành, tăng hiệu quả khai thác.

“Các kỹ sư đã làm chủ hoàn toàn công nghệ thiết kế, thi công hệ thống liên khóa rơ-le 6502 của Trung Quốc và tích hợp với các thiết bị điện tử hiện đại của các tập đoàn hàng đầu như Alstom (Pháp), được triển khai trên 18 ga, tiết kiệm cho ngân sách nhà nước hàng trăm tỷ đồng, rút ngắn thời gian hoàn thành dự án và bảo đảm tuyệt đối an toàn chạy tàu”, ông Sỹ khẳng định.

Ông Trần Hải Anh, Giám đốc Công ty cổ phần Thông tin-tín hiệu đường sắt Vinh cho biết, đơn vị quản lý gần 400km đường sắt từ Thanh Hóa đến Vinh (Km137+250 đến Km521+800), có tổng số 750 đường ngang giao cắt đường bộ. Công ty đã lắp đặt, trang bị 150 đường ngang cảnh báo tự động và cáp quang dọc tuyến, truyền hình ảnh trực tiếp về trung tâm giám sát trực 24 giờ để theo dõi, cảnh báo khi có sự cố trước khi tàu chạy qua nhằm bảo đảm an toàn chạy tàu tại các đường ngang. Kể từ khi có hệ thống thiết bị này, các nhân viên trực chạy tàu và nhân viên gác chắn làm việc không còn bị căng thẳng và nguy hiểm như trước, thời gian tàu đi/đến chính xác, bảo đảm tuyệt đối an toàn.

Để thực mục sở thị, tại Km311+400 có đường ngang cảnh báo tự động, chúng tôi thí nghiệm đưa một xe ô-tô nằm lọt vào khu vực giao cắt đường sắt-đường bộ, lập tức hệ thống thiết bị cảm biến phát tín hiệu đèn đỏ cảnh báo, kết hợp rung chuông, đồng thời gửi tín hiệu đến thiết bị cảnh báo gắn trên tàu ở khoảng cách 1,5km. Với khoảng cách này, lái tàu có thể hãm phanh an toàn để dừng tàu, không có nguy cơ xảy ra va chạm, tai nạn.

Từng bước làm chủ "công nghệ lõi"

Chủ tịch Hội đồng thành viên VNR Đặng Sỹ Mạnh cho biết, theo Nghị quyết của Quốc hội, VNR được giao tiếp nhận quản lý, bảo trì, vận hành và khai thác dự án đường sắt tốc độ cao trên tuyến bắc-nam, tuyến đường sắt Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng và xây dựng tổ hợp công nghiệp đường sắt.

“Là một doanh nghiệp nhà nước có đầy đủ kinh nghiệm, năng lực và hệ sinh thái kỹ thuật, VNR sẵn sàng tiếp nhận quản lý, bảo trì, vận hành, khai thác và làm chủ chuyển giao công nghệ các dự án đường sắt mới, đường sắt tốc độ cao, giảm phụ thuộc nước ngoài. Có thể khẳng định, VNR đã chuyển mình mạnh mẽ, từ phụ thuộc về thiết bị, công nghệ nước ngoài sang nghiên cứu, từng bước tự chủ công nghệ lõi thông tin-tín hiệu đường sắt”, ông Mạnh khẳng định.

Với các dự án đường sắt mới, VNR mong muốn được tham gia từ bước đầu thực hiện thi công xây lắp, kiểm tra thử nghiệm và vận hành chạy thử toàn bộ hệ thống. Mục tiêu đến năm 2030, VNR phấn đấu làm chủ hoàn toàn công tác bảo trì, vận hành các tuyến đường sắt Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng, đường sắt tốc độ cao trên tuyến bắc-nam, đảm nhận 80-90% hạng mục điện-tín hiệu trong các dự án đường sắt mới. Hướng tới năm 2045, ngành thông tin-tín hiệu đường sắt Việt Nam chuyển mình từ đơn vị tiếp nhận công nghệ sang chế tạo và cung ứng giải pháp kỹ thuật cao.

Theo đánh giá của Phó Tổng Giám đốc VNR Nguyễn Quốc Vượng, khi làm chủ được công nghệ, kinh phí bảo trì thấp hơn nhiều so với nước ngoài. Chủ động trong vận hành, nâng cấp, kết nối giữa các tuyến, VNR đã hình thành nền tảng ban đầu cho việc nâng cấp công nghệ, áp dụng tại các tuyến metro và đường sắt mới với năng lực vận tốc lên tới 200km/giờ.

Kết quả nghiên cứu công nghệ thông tin-tín hiệu đường sắt của VNR thời gian qua cho thấy, ngoài bảo đảm an toàn chạy tàu, thành tựu của ngành còn góp phần hình thành nền tảng khoa học-công nghệ hiện đại, tiến tới làm chủ công nghệ và nội địa hóa sản phẩm, tiệm cận với công nghệ các nước tiên tiến trên thế giới nhằm tiếp nhận, quản lý bảo trì và vận hành các dự án đường sắt mới và đường sắt tốc độ cao theo Nghị quyết của Quốc hội đã giao.

Thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ đào tạo phát triển nguồn nhân lực đường sắt tốc độ cao và các dự án đường sắt mới, VNR đã xây dựng kế hoạch và triển khai đào tạo đến năm 2035 và sau năm 2045. Trước mắt, VNR hợp tác với các nước phát triển như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, đào tạo 300 nhân lực theo biên bản hợp tác với Hàn Quốc, tổ chức các lớp đào tạo về cơ khí, cầu đường và thông tin tín hiệu tại Trung Quốc.

“Hiện nay, VNR có đội ngũ 1.700 cán bộ, công nhân viên thông tin tín hiệu, nếu tiếp nhận quản lý, bảo trì dự án đường sắt Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng, dự kiến năm 2030 sẽ cần 4.600 người. Đội ngũ của VNR sẵn sàng tiếp cận công nghệ các nước hiện đại trên thế giới và hoàn toàn có thể tiếp nhận quản lý, bảo trì các dự án đường sắt theo Nghị quyết được Quốc hội giao”, ông Vượng khẳng định.

Có thể bạn quan tâm