Trong bối cảnh tranh chấp sở hữu trí tuệ ngày càng gia tăng và phức tạp, việc thành lập Tòa chuyên trách được kỳ vọng nâng cao chất lượng xét xử, bảo vệ quyền sáng tạo và môi trường đầu tư. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cũng bộc lộ không ít khó khăn, thách thức, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao năng lực hệ thống tư pháp.
Phóng viên Báo Nhân Dân đã có cuộc trao đổi với bà Đinh Thị Kiều My, Phó Chánh án Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Hà Nội nhằm làm rõ những kết quả, thách thức cũng như định hướng hoàn thiện mô hình Tòa chuyên trách sở hữu trí tuệ trong thời gian tới.
Tạo lập hệ thống xét xử chuyên sâu, nâng cao niềm tin của nhà đầu tư
Bà Đinh Thị Kiều My, Phó Chánh án Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Hà Nội
Bà Đinh Thị Kiều My, Phó Chánh án Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Hà Nội
Phóng viên: Trong bối cảnh tranh chấp về sở hữu trí tuệ ngày càng gia tăng và phức tạp, việc thành lập Tòa chuyên trách tại hai Tòa án của thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh về sở hữu trí tuệ có ý nghĩa như thế nào đối với nâng cao chất lượng xét xử và bảo vệ quyền sáng tạo, thưa bà?
Phó Chánh án Đinh Thị Kiều My: Việc thành lập Tòa chuyên trách về sở hữu trí tuệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tạo ra một hệ thống xét xử chuyên sâu với các Thẩm phán, Thư ký giàu kinh nghiệm, hiểu biết về lĩnh vực sở hữu trí tuệ sẽ giúp giải quyết các vụ việc phức tạp được chính xác và đồng nhất như nhiều quốc gia hiện nay đang áp dụng.
Mô hình chuyên sâu này giúp các Thẩm phán không chỉ nắm vững pháp luật về dân sự, kinh doanh thương mại, hành chính và tố tụng, mà các Thẩm phán còn phải hiểu được bản chất của đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, hiểu biết về kỹ thuật, về công nghệ, về thị trường, về khả năng gây nhầm lẫn, về giá trị khai thác thương mại của tài sản trí tuệ, cũng như cách thức xâm phạm ngày càng tinh vi trong môi trường số…
Đối với các nhà đầu tư nước ngoài thì việc thành lập Tòa chuyên trách về sở hữu trí tuệ sẽ tạo cho họ cảm nhận và sự tin tưởng về việc tài sản trí tuệ của họ được bảo vệ trong môi trường kinh doanh tại Việt Nam, do vậy sẽ kích thích thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam nhiều hơn khi thời hạn giải quyết các vụ án này được nhanh và chính xác hơn trước đây.
Phóng viên: Trên cương vị là người trực tiếp phụ trách loại án về SHTT tại Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Hà Nội, xin bà thông tin về những kết quả nổi bật trong công tác giải quyết các vụ việc liên quan SHTT tại Tòa chuyên trách về SHTT thời gian qua?
Phó Chánh án Đinh Thị Kiều My: Trong thời gian qua, công tác giải quyết các vụ việc SHTT tại Tòa án nhân dân khu vực 2 – Hà Nội đã đạt được nhiều kết quả tích cực, đặc biệt là sự cải thiện rõ rệt về thời gian giải quyết.
Cụ thể, các Thẩm phán khi đã được đào tạo, xét xử chuyên sâu các vụ án về sở hữu trí tuệ thì sẽ không mất thời gian nghiên cứu về lĩnh vực tranh chấp, đồng thời Thẩm phán sẽ xác định được vấn đề trọng tâm vụ tranh chấp và có những quyết định chính xác và nhanh hơn. Điều đó đồng nghĩa với việc Thẩm phán có thể dễ dàng hòa giải vụ án, chất lượng xét xử các Bản án được nâng cao, giảm được tình trạng các Bản án bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán. Những Bản án, quyết định có chất lượng tốt sẽ là nguồn án lệ để giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, bảo đảm tính thống nhất cho các Thẩm phán khi áp dụng pháp luật.
Mặt khác, khi Thẩm phán được chuyên môn hóa cao, các Bản án sẽ được lập luận một cách chặt chẽ hơn, đánh giá chứng cứ chính xác hơn, thông qua những phần nhận định có thể tạo ra các án lệ và nguồn luật sau này. Đồng thời, việc chỉ có hai Tòa án được giao giải quyết một loại tranh chấp này sẽ giúp hình thành thực tiễn áp dụng pháp luật ổn định và thống nhất hơn.
Tính từ ngày 1/7/2025 đến nay, Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Hà Nội đã tiếp nhận 42 đơn khởi kiện về sở hữu trí tuệ, đã thụ lý 21 vụ, giải quyết 3 vụ; trả lại 6 đơn và chuyển một đơn.
Thách thức lớn nhất là xây dựng đội ngũ Thẩm phán phải có "kiến thức kép"
Tọa đàm “Giới thiệu những điểm mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2025 và nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ”, ngày 21/01, tại Hà Nội.
Tọa đàm “Giới thiệu những điểm mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2025 và nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ”, ngày 21/01, tại Hà Nội.
Phóng viên: Từ thực tiễn, bà có thể chia sẻ những khó khăn, thách thức lớn nhất khi triển khai mô hình Tòa chuyên trách về sở hữu trí tuệ là gì, đặc biệt trong việc bảo đảm đội ngũ Thẩm phán có chuyên môn sâu và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế?
Phó Chánh án Đinh Thị Kiều My: Tôi cho rằng thách thức lớn nhất khi triển khai mô hình này nằm ở việc xây dựng và đào tạo đội ngũ Thẩm phán có "kiến thức kép", vừa tinh thông pháp luật vừa có hiểu biết sâu rộng về các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới. Bên cạnh đó, áp lực hội nhập quốc tế đòi hỏi các cán bộ Tòa án phải có năng lực ngoại ngữ và khả năng tiếp cận các hệ thống pháp lý toàn cầu để giải quyết hiệu quả các tranh chấp xuyên biên giới trong kỷ nguyên số.
Áp lực hội nhập quốc tế đòi hỏi các cán bộ Tòa án phải có năng lực ngoại ngữ và khả năng tiếp cận các hệ thống pháp lý toàn cầu để giải quyết hiệu quả các tranh chấp xuyên biên giới trong kỷ nguyên số.
Hơn nữa, khối lượng vụ án sở hữu trí tuệ hiện nay chưa phân bố đều, trong khi yêu cầu chuyên môn hóa lại rất cao. Nếu tổ chức dàn trải, ở nơi số lượng vụ án ít, Thẩm phán sẽ không có đủ điều kiện cọ xát thực tiễn để tích lũy kinh nghiệm chuyên sâu. Vì vậy, mô hình tổ chức phải bảo đảm nguyên tắc tập trung hợp lý, tạo ra các đầu mối xét xử có tính trung tâm.
Cuối cùng là hạ tầng hỗ trợ xét xử chuyên ngành còn cần tiếp tục hoàn thiện, từ đội ngũ giám định, chuyên gia, cơ chế phối hợp với cơ quan quản lý chuyên ngành, đến hệ thống số hóa hồ sơ, chứng cứ điện tử và công cụ hỗ trợ xử lý vụ án trong môi trường số.
Khi thành lập các Tòa chuyên trách và các Thẩm phán chuyên sâu trong việc giải quyết các vụ án về sở hữu trí tuệ, dần dần các Thẩm phán tự mình có thể nhận diện được các vi phạm pháp luật, không cần thiết phải sử dụng cơ quan giám định những vụ việc thông thường như hiện nay làm mất thời gian và chi phí cho các đương sự.
Tăng cường cơ chế bảo toàn chứng cứ sớm
Phóng viên: Trong thực tiễn xét xử, việc thu thập, đánh giá chứng cứ trong các vụ án sở hữu trí tuệ thường gặp khó khăn gì, nhất là đối với chứng cứ điện tử và hành vi xâm phạm trên môi trường số và giải pháp đặt ra là gì.
Phó Chánh án Đinh Thị Kiều My: Trong thực tiễn xét xử, việc thu thập và đánh giá chứng cứ điện tử gặp rất nhiều trở ngại, bởi đặc trưng của chứng cứ điện tử là rất dễ tạo lập, dễ bị thay đổi, đễ bị xóa bỏ hoặc che giấu. Thí dụ một gian hàng vi phạm trên sàn thương mại điện tử có thể đóng trong thời gian rất ngắn, một video vi phạm bản quyền có thể bị xóa, thay link, đổi tài khoản; một trang web bán hàng giả có thể chuyển tên miền, đổi máy chủ hoặc ẩn thông tin chủ thể.
Bên cạnh đó, việc thu thập chứng cứ về hành vi xâm phạm diễn ra trên môi trường số, trong khi máy chủ đặt ở nước ngoài hoặc qua nên tảng trung gian đã khiến cho việc xác định chủ thể vi phạm và thu thập dữ liệu gốc gặp nhiều trở ngại, thậm chí còn phụ thuộc vào sự hợp tác của bên thứ ba.
Tiếp theo là khó đánh giá giá trị chứng minh của từng loại chứng cứ điện tử. Ảnh chụp màn hình, video ghi nhận thao tác truy cập, dữ liệu giao dịch, lịch sử chỉnh sửa nội dung, metadata, log truy cập, email, tin nhắn, dữ liệu do nền tảng cung cấp, biên bản thừa phát lại, kết luận giám định… mỗi loại đều có đặc điểm khác nhau về độ tin cậy, tính toàn vẹn và tính xác thực.
Nếu không có quy trình thu thập, niêm phong hay giám định chặt chẽ thì sẽ rất khó xác định và chứng minh được tính toàn vẹn và tính xác thực của nguồn gốc chứng cứ.
Nếu không có quy trình thu thập, niêm phong hay giám định chặt chẽ thì sẽ rất khó xác định và chứng minh được tính toàn vẹn và tính xác thực của nguồn gốc chứng cứ.
Để giải quyết vấn đề này, thứ nhất, cần tăng cường cơ chế bảo toàn chứng cứ sớm, cho phép Tòa án can thiệp kịp thời trong những trường hợp có nguy cơ chứng cứ bị tiêu hủy, thay đổi hoặc tẩu tán dữ liệu.
Thứ hai, cần đẩy mạnh phối hợp liên ngành giữa Tòa án với cơ quan giám định, cơ quan Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, cơ quan quản lý tên miền, nhà cung cấp nền tảng, đơn vị thanh toán và logistics. Do vậy, có thể hiểu tranh chấp sở hữu trí tuệ trên môi trường số không thể xử lý tốt nếu Tòa án đứng một mình.
Để tháo gỡ khó khăn về chứng cứ điện tử trong các vụ án sở hữu trí tuệ, cần có những giải pháp đồng bộ. Trước hết, về pháp luật, cần chuẩn hóa rõ ràng quy trình thu thập, bảo quản và đánh giá chứng cứ điện tử theo hướng tiệm cận thông lệ quốc tế, đặc biệt là các tiêu chí về tính toàn vẹn, tính xác thực và chuỗi bảo quản dữ liệu. Khi quy định đủ cụ thể, việc áp dụng sẽ thống nhất và giảm tranh cãi.
Thứ hai, cần xây dựng đội ngũ chuyên trách hoặc cơ chế hỗ trợ kỹ thuật cho Tòa án và cơ quan tiến hành tố tụng, bao gồm cả việc sử dụng các công cụ ghi nhận dữ liệu số, niêm phong điện tử và giám định chuyên sâu. Nếu chỉ dựa vào kỹ năng pháp lý thuần túy thì khó theo kịp thực tiễn công nghệ.
Thứ ba, cần tăng cường hợp tác với các nền tảng số, nhà cung cấp dịch vụ và cả cơ quan nước ngoài trong việc cung cấp dữ liệu. Không có sự hợp tác này, nhiều chứng cứ quan trọng sẽ không thể tiếp cận được.
Thứ tư, nên mở rộng và áp dụng hiệu quả các biện pháp khẩn cấp tạm thời, cơ chế bảo toàn chứng cứ ngay từ giai đoạn đầu, tránh tình trạng dữ liệu bị xóa hoặc bị can thiệp trước khi được thu thập hợp pháp.
Cuối cùng, về con người, việc đào tạo Thẩm phán cần theo kết hợp giữa pháp luật và công nghệ - là yếu tố quyết định. Bởi suy cho cùng, công cụ có tốt đến đâu mà người sử dụng không làm chủ được thì vẫn không thể phát huy hiệu quả.
Việc đào tạo Thẩm phán cần theo kết hợp giữa pháp luật và công nghệ - là yếu tố quyết định. Bởi suy cho cùng, công cụ có tốt đến đâu mà người sử dụng không làm chủ được thì vẫn không thể phát huy hiệu quả.
Phóng viên: Vậy, việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tranh chấp sở hữu trí tuệ (như tạm dừng lưu thông hàng hóa, phong tỏa tài sản) cần được hoàn thiện ra sao để vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân vừa tránh lạm dụng, thưa bà?
Phó Chánh án Đinh Thị Kiều My: Việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tranh chấp sở hữu trí tuệ, chẳng hạn như tạm dừng lưu thông hàng hóa, phong tỏa tài sản hay thu giữ chứng cứ, cần được hoàn thiện theo hướng chi tiết hóa các điều kiện thụ lý để đảm bảo tính kịp thời nhưng vẫn giữ được sự khách quan.
Một mặt, pháp luật cần xây dựng quy trình "phản ứng nhanh" cho phép Thẩm phán ra quyết định trong thời gian ngắn nhất nhằm ngăn chặn thiệt hại không thể khắc phục cho chủ thể quyền, đặc biệt là đối với các sản phẩm có vòng đời ngắn hoặc hành vi xâm phạm trên môi trường số diễn ra tức thì.
Mặt khác, để tránh tình trạng doanh nghiệp lạm dụng công cụ này nhằm triệt hạ đối thủ cạnh tranh, cần bắt buộc bên yêu cầu phải thực hiện nghĩa vụ bảo đảm tài chính thông qua hình thức ký quỹ Ngân hàng hoặc tài sản tương đương với giá trị lô hàng bị đình trệ.
Đồng thời, cần bổ sung quy định cụ thể về trách nhiệm bồi thường thiệt hại thực tế và danh dự uy tín cho bên bị áp dụng nếu sau đó Tòa án kết luận không có hành vi xâm phạm, giúp tạo ra một "màng lọc" pháp lý công bằng cho tất cả các bên tham gia tranh chấp.
Tiếp cận án lệ quốc tế, phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam
Phóng viên: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, theo bà, Tòa chuyên trách cần tiếp cận và tham chiếu án lệ, thông lệ quốc tế về sở hữu trí tuệ như thế nào để nâng cao chất lượng xét xử?
Phó Chánh án Đinh Thị Kiều My: Để nâng cao chất lượng xét xử trong bối cảnh hội nhập, Tòa chuyên trách sẽ tăng cường nghiên cứu và tham chiếu các án lệ từ các hệ thống pháp luật phát triển và các phán quyết của các cơ quan giải quyết tranh chấp quốc tế.
Thứ nhất, học hỏi các nguyên tắc nền tảng như tiêu chí xác định khả năng gây nhầm lẫn, cách đánh giá tính tương tự, nguyên tắc cân bằng lợi ích, tính tương xứng của lệnh cấm, hay tiêu chí xác định trách nhiệm của nền tảng trung gian.
Đoàn công tác của TAND tối cao tại Bộ Tư pháp Cộng hoà liên bang Đức trao đổi về Luật Sở hữu trí tuệ và Tội phạm công nghệ cao.
Đoàn công tác của TAND tối cao tại Bộ Tư pháp Cộng hoà liên bang Đức trao đổi về Luật Sở hữu trí tuệ và Tội phạm công nghệ cao.
Thứ hai, học hỏi phương pháp lập luận trong các bản án có chất lượng cao. Nhiều khi điều quý nhất không phải là kết quả vụ án, mà là cách tiếp cận vấn đề Tòa án nước ngoài, các cấu trúc lập luận, cách họ xử lý xung đột giữa các quyền và lợi ích. Điểm quan trọng hơn nữa là học phương pháp lập luận sẽ giúp Tòa án Việt Nam xử lý tốt các xung đột lợi ích.
Thứ ba, từng bước phát triển án lệ quốc gia về sở hữu trí tuệ, lấy thực tiễn Việt Nam làm trung tâm. Chúng ta có thể tham khảo quốc tế, nhưng cuối cùng phải xây dựng được hệ thống án lệ của chính mình, phù hợp với pháp luật và thực tiễn Việt Nam và không trái với các Công ước quốc tế hay tập quán quốc tế mà các quốc gia khác đang áp dụng.
Tôi cho rằng nếu chỉ dừng ở mức nghiên cứu các phán quyết của Tòa án nước ngoài để tham khảo, thì giá trị sẽ rất hạn chế. Điều Việt Nam cần là từ quá trình tham khảo đó, rút ra được những chuẩn mực xét xử phù hợp với pháp luật và thực tiễn Việt Nam, rồi kết tinh dần thành án lệ quốc gia, hoặc ít nhất là thành những đường hướng xét xử ổn định.
Mở ra “công cụ phản ứng nhanh” trên không gian mạng
Để thực sự trở thành “công cụ phản ứng nhanh”, cần bảo đảm hai điều kiện: Thứ nhất là quy trình áp dụng phải nhanh, rõ và khả thi trên thực tế; thứ hai là cơ chế phối hợp hiệu quả với các nền tảng số trong việc thực thi yêu cầu của Tòa án. Nếu thiếu hai yếu tố này, tôi cho rằng quy định tiến bộ cũng khó phát huy hết hiệu quả.
Phóng viên: Việc Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ có hiệu lực từ ngày 1/4/2026 trao thêm quyền cho Tòa án trong việc yêu cầu gỡ bỏ, chặn truy cập nội dung vi phạm có thể được xem là “công cụ phản ứng nhanh” để xử lý các hành vi xâm phạm đang lan truyền với tốc độ rất lớn trên không gian mạng hiện nay không.
Phó Chánh án Đinh Thị Kiều My: Việc luật sửa đổi, bổ sung Luật sở hữu trí tuệ có hiệu lực từ ngày 1/4/2026 trao thêm quyền cho Tòa án trong việc yêu cầu gỡ bỏ, chặn truy cập nội dung vi phạm có thể xem là một bước tiến rất quan trọng theo hướng “phản ứng nhanh”.
Trước đây, khi xử lý vi phạm trên không gian mạng, tố tụng thường đi sau thực tế, trong khi nội dung xâm phạm có thể lan truyền chỉ trong vài giờ. Việc trao quyền cho Tòa án áp dụng các biện pháp kịp thời giúp ngăn chặn ngay từ đầu hoặc hạn chế tối đa hậu quả, thay vì chờ đến khi có Bản án có hiệu lực.
Điểm đáng chú ý là cơ chế này chuyển trọng tâm từ “xử lý hậu quả” sang chủ động kiểm soát hành vi vi phạm đang diễn ra, phù hợp với đặc thù của môi trường số.
Tuy nhiên, để thực sự trở thành “công cụ phản ứng nhanh”, cần bảo đảm hai điều kiện: Thứ nhất là quy trình áp dụng phải nhanh, rõ và khả thi trên thực tế; thứ hai là cơ chế phối hợp hiệu quả với các nền tảng số trong việc thực thi yêu cầu của Tòa án. Nếu thiếu hai yếu tố này, tôi cho rằng quy định tiến bộ cũng khó phát huy hết hiệu quả.
Phóng viên: Trong bối cảnh nhiều nền tảng số hoạt động xuyên biên giới, việc thực thi quyết định tạm thời vô hiệu hóa truy cập đến tài khoản, ứng dụng hoặc địa chỉ internet liên quan đến hành vi xâm phạm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của Tòa án sẽ gặp những thách thức gì và cần cơ chế phối hợp ra sao để bảo đảm hiệu quả thi hành, thưa bà?
Phó Chánh án Đinh Thị Kiều My: Trong bối cảnh các nền tảng số hoạt động xuyên biên giới, thách thức lớn nhất không nằm ở việc ra quyết định, mà ở khả năng thực thi quyết định đó trên thực tế, trong đó có những thách thức chính như sau:
Xung đột về thẩm quyền và chủ quyền: các nền tảng số thường có trụ sở tại nước ngoài (như Hoa Kỳ, Singapore...). Việc yêu cầu một thực thể nước ngoài tuân thủ quyết định của Tòa án trong nước gặp khó khăn về rào cản pháp lý quốc tế và tính thực thi chủ quyền trên không gian mạng;
Khó khăn về kỹ thuật: Đối tượng vi phạm thường sử dụng các biện pháp kỹ thuật như VPN, Proxy để ẩn danh, hoặc liên tục thay đổi tên miền, địa chỉ IP (domain hopping), khiến việc chặn truy cập trở nên kém hiệu quả và chỉ mang tính tạm thời;
Tốc độ lan truyền thông tin: Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên mạng diễn ra cực kỳ nhanh chóng. Quy trình tố tụng và ra quyết định của Tòa án thường chậm hơn tốc độ phát tán vi phạm, dẫn đến việc khi thực thi được thì thiệt hại đã quá lớn;
Sự thiếu hợp tác của các bên trung gian: Một số nhà cung cấp dịch vụ internet (ISP) hoặc nền tảng trung gian có thể chậm trễ trong việc thực thi vì lo ngại ảnh hưởng đến trải nghiệm người dùng hoặc vi phạm các chính sách quyền riêng tư của họ.
Lễ ký kết quy chế phối hợp trong công tác giữa Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Hà Nội và Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Hà Nội
Lễ ký kết quy chế phối hợp trong công tác giữa Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Hà Nội và Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Hà Nội
Do vậy, theo tôi, cơ chế phối hợp để bảo đảm hiệu quả thi hành cần có là:
Cơ chế "Cảnh báo và Gỡ bỏ" (Notice and Takedown): Theo đó cần thiết lập quy trình phối hợp trực tiếp giữa cơ quan tư pháp và các nền tảng số lớn. Khi có lệnh từ Tòa án, các nền tảng này cần có đầu mối tiếp nhận và xử lý nhanh chóng dựa trên các cam kết tuân thủ pháp luật sở tại.
Hợp tác liên ngành: Ở đây cần sự phối hợp chặt chẽ giữa Tòa án, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công an và các doanh nghiệp viễn thông. Khi Tòa án ra quyết định, các cơ quan quản lý nhà nước sẽ yêu cầu các ISP thực hiện ngăn chặn về mặt kỹ thuật ngay lập tức.
Hợp tác quốc tế và tương trợ tư pháp: Tăng cường ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự và thương mại, đặc biệt là trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, để tạo cơ sở pháp lý cho việc thực thi các quyết định của Tòa án xuyên biên giới.
Áp dụng công nghệ giám sát: Xây dựng hệ thống theo dõi tự động để phát hiện các trường hợp tái vi phạm sau khi đã bị vô hiệu hóa, giúp việc thực thi mang tính liên tục và triệt để hơn.
Xây dựng đội ngũ thẩm phán nòng cốt về sở hữu trí tuệ hội nhập quốc tế
Phóng viên: Để Tòa chuyên trách về sở hữu trí tuệ thực sự phát huy hiệu quả, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo vệ môi trường đầu tư kinh doanh, Tòa án nhân dân khu vực 2 – Hà Nội sẽ ưu tiên tập trung vào những nhiệm vụ và giải pháp nào trong thời gian tới, thưa bà?
Phó Chánh án Đinh Thị Kiều My: Theo tôi, trong thời gian tới, Tòa án nhân dân khu vực 2- Hà Nội cần xác định nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng đội ngũ Thẩm phán nòng cốt về sở hữu trí tuệ để bắt kịp với các nước trong khu vực và thế giới.
Để làm được điều đó, đầu tiên là phải có phương án tuyển chọn Thẩm phán, Thư ký làm việc trong Tòa án và có chiến lược đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng lâu dài, đồng thời đề nghị với Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân tối cao bổ sung thêm biên chế cán bộ trẻ, ưu tiên các cán bộ có ngoại ngữ và có hai ba bằng đại học trở lên nhất là những bạn có kiến thức về công nghệ thông tin.
Tiếp theo, cần xây dựng quy trình giải quyết riêng cho các vụ việc sở hữu trí tuệ, nhất là quy trình xử lý chứng cứ điện tử, yêu cầu giám định, yêu cầu cung cấp dữ liệu từ bên thứ ba và áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Giải pháp đột phá sẽ tập trung vào việc cải cách thủ tục hành chính tư pháp, tăng cường đối thoại và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý vụ án, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ môi trường đầu tư lành mạnh và thúc đẩy sự phát triển của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại Thủ đô.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn bà!
Ngày xuất bản: 25/4/2026
Chỉ đạo sản xuất: Nguyễn Ngọc Thanh
Tổ chức thực hiện: Hoàng Nhật-Nam Đông
Nội dung: Thảo Lê-Thu Hằng-Việt Hà
Trình bày: Thùy Lâm
