Khi dữ liệu được khai thác như một tài sản kinh tế, doanh nghiệp trở thành lực lượng trực tiếp biến dữ liệu thành sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới. Từ trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu đến điện toán đám mây, nhiều doanh nghiệp công nghệ Việt Nam đang hình thành các nền tảng khai thác dữ liệu, mở ra không gian tăng trưởng mới cho nền kinh tế số.

                      Dữ liệu mở ra các mô hình kinh doanh mới

Theo Hiệp hội Dữ liệu quốc gia, một đặc điểm quan trọng của dữ liệu là tính phi đối kháng: nhiều chủ thể có thể khai thác cùng một bộ dữ liệu mà không làm mất đi giá trị của nó. Nhờ đặc tính này, dữ liệu có thể tạo ra lợi nhuận theo quy mô lớn và thúc đẩy sự ra đời của các sản phẩm, dịch vụ số và mô hình kinh doanh mới dựa trên phân tích dữ liệu.

Ở góc độ kinh tế, việc ứng dụng dữ liệu lớn và AI trong phân tích và tự động hóa đang góp phần nâng cao năng suất và tối ưu chi phí vận hành. Khi thông tin được xử lý nhanh và chính xác hơn, doanh nghiệp có thể cải thiện chất lượng dịch vụ, rút ngắn thời gian ra quyết định và mở rộng thị trường. Trong môi trường cạnh tranh dựa trên dữ liệu, doanh nghiệp buộc phải liên tục đổi mới sản phẩm, cá nhân hóa dịch vụ và tối ưu hoạt động kinh doanh.

Trong quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch đô thị hay khai thác tài nguyên, việc tích hợp dữ liệu đa ngành (địa chất, dân cư, hạ tầng, khí hậu…) cho phép các cơ quan quản lý đưa ra quyết định dựa trên bằng chứng, giảm chồng chéo và nâng cao hiệu quả đầu tư. Khi dữ liệu về quy hoạch, đất đai hay môi trường được công khai ở mức phù hợp, người dân và doanh nghiệp cũng có thể tham gia giám sát, góp phần tăng tính minh bạch và hiệu quả quản lý.

Các chuyên gia nhận định, kinh tế dữ liệu cũng góp phần mở rộng thị trường và tăng cường cạnh tranh. Các nền tảng số kết nối trực tiếp người mua và người bán, giảm chi phí giao dịch, minh bạch thông tin và mở ra các thị trường xuyên biên giới. Trong môi trường cạnh tranh dựa trên dữ liệu, doanh nghiệp buộc phải liên tục đổi mới sản phẩm, cải thiện chất lượng dịch vụ và tối ưu hóa hoạt động kinh doanh.

Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp công nghệ Việt Nam đang từng bước hình thành các nền tảng khai thác dữ liệu. Các giải pháp trí tuệ nhân tạo (AI), phân tích dữ liệu và điện toán đám mây do Viettel, FPT, VNPT hay CMC phát triển đã được ứng dụng trong tài chính số, logistics, nông nghiệp thông minh, quản trị đô thị và dịch vụ công.

Chẳng hạn, hệ thống giao thông thông minh Viettel ITS do Viettel Solutions phát triển tích hợp AI, dữ liệu lớn và Internet vạn vật để phân tích lưu lượng phương tiện, giám sát hạ tầng và điều tiết giao thông theo thời gian thực. Việc kết nối dữ liệu giữa phương tiện, hạ tầng và trung tâm điều hành giúp các đô thị nâng cao hiệu quả quản lý giao thông, đồng thời mở ra các dịch vụ dữ liệu phục vụ quản trị đô thị.

Trong lĩnh vực dịch vụ công, dữ liệu và AI cũng đang mở ra cách tiếp cận phục vụ mới. Trợ lý GenAI của VNPT đã được thí điểm trên Cổng dịch vụ công Thành phố Hồ Chí Minh nhằm hỗ trợ người dân tra cứu và thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến.

Màn trình diễn Robot AI và giải pháp iKnow của VNPT hướng dẫn người dân thực hiện thủ tục hành chính tại Diễn đàn quốc gia phát triển doanh nghiệp công nghệ Việt Nam ngày 30/12/2025.

Màn trình diễn Robot AI và giải pháp iKnow của VNPT hướng dẫn người dân thực hiện thủ tục hành chính tại Diễn đàn quốc gia phát triển doanh nghiệp công nghệ Việt Nam ngày 30/12/2025.

Trên cơ sở đó, VNPT phát triển nền tảng tri thức thông minh VNPT iKNOW, cho phép cơ quan và doanh nghiệp khai thác thông tin từ kho dữ liệu lớn thông qua tương tác hỏi - đáp bằng ngôn ngữ tự nhiên. Giải pháp đang được thử nghiệm tại hơn 20 tỉnh, thành phố.

Những dẫn chứng trên cho thấy dữ liệu và AI không chỉ giúp doanh nghiệp tối ưu vận hành mà còn đang hình thành các nền tảng và dịch vụ dữ liệu mới cho thị trường. Khi dữ liệu được quản trị như một loại tài sản chiến lược, thay vì bị phân tán trong từng hệ thống riêng lẻ, doanh nghiệp có thể khai thác nhiều giá trị mới từ cùng một nguồn dữ liệu.

Đồng thời, việc tuân thủ các quy định về bảo vệ dữ liệu cũng đang mở ra một phân khúc thị trường mới cho các doanh nghiệp công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực các giải pháp quản trị dữ liệu, bảo mật và công nghệ tuân thủ (RegTech) “Make in Vietnam”. Đây cũng là dư địa để các doanh nghiệp an ninh mạng trong nước mở rộng thị trường.

Chính sách ưu tiên sản phẩm nội địa đang mở ra “thời điểm vàng” để doanh nghiệp Việt nâng chuẩn chất lượng và khẳng định vị thế bằng năng lực thực chất. Với các doanh nghiệp như CyRadar, việc kiên trì phát triển các giải pháp phát hiện sớm tấn công mạng, bảo vệ thiết bị đầu cuối không chỉ là câu chuyện công nghệ, mà còn là cách tham gia trực tiếp vào thị trường bảo vệ dữ liệu đang hình thành cùng với kinh tế số.

Ông Nguyễn Minh Đức, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Dịch vụ An ninh mạng (Hiệp hội An ninh mạng quốc gia), Giám đốc điều hành CyRadar.

Số hóa và kết nối dữ liệu giúp Vinamilk nâng cao độ chính xác và tính ổn định trong lập kế hoạch sản xuất - cung ứng trên toàn hệ thống.

Số hóa và kết nối dữ liệu giúp Vinamilk nâng cao độ chính xác và tính ổn định trong lập kế hoạch sản xuất - cung ứng trên toàn hệ thống.

Dữ liệu tái định hình cách vận hành doanh nghiệp

Trong lĩnh vực công nghiệp và logistics, dữ liệu đang góp phần thay đổi cách quản lý an toàn và vận hành. Hệ thống HSAFE được đưa vào sử dụng tại Cảng Phú Mỹ sử dụng mũ bảo hộ thông minh tích hợp cảm biến để theo dõi vị trí và tình trạng sức khỏe của người lao động, thiết bị giám sát phương tiện cơ giới vận hành trong cảng. Dữ liệu được truyền theo thời gian thực về trung tâm điều hành, giúp phát hiện các tình huống nguy hiểm như va đập mạnh, bất động hoặc xâm nhập khu vực hạn chế. Việc trực quan hóa dữ liệu trên bản đồ số cho phép nhà quản lý phân tích rủi ro và cải thiện quy trình vận hành.

Một phòng vận hành khai thác tại Cảng Phú Mỹ sử dụng các giải pháp giám sát và điều khiển tự động của công ty Lê Dương.

Một phòng vận hành khai thác tại Cảng Phú Mỹ sử dụng các giải pháp giám sát và điều khiển tự động của công ty Lê Dương.

Không chỉ trong quản lý an toàn lao động, dữ liệu cũng đang được ứng dụng ngày càng rộng trong điều hành logistics và thương mại biên giới. Tại Lạng Sơn, nền tảng “cửa khẩu số” cho phép theo dõi lưu lượng phương tiện, quản lý hồ sơ xuất nhập khẩu và điều phối luồng xe theo thời gian thực. Nhờ việc kết nối dữ liệu giữa doanh nghiệp vận tải, cơ quan hải quan và lực lượng quản lý cửa khẩu, hoạt động điều hành được minh bạch và hiệu quả hơn, góp phần giảm ùn tắc và nâng cao năng lực thông quan. Mô hình này cho thấy khi dữ liệu được chia sẻ và khai thác theo thời gian thực, nó có thể trở thành công cụ quan trọng để tối ưu vận hành logistics và chuỗi cung ứng trong các khu vực kinh tế cửa khẩu.

Trong bối cảnh đó, báo cáo e-Conomy SEA 2025 của Google, Temasek và Bain & Company dự báo quy mô kinh tế số Đông Nam Á có thể vượt 300 tỷ USD trong những năm tới, dù nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện vẫn chỉ khai thác được một phần nhỏ giá trị từ dữ liệu sẵn có.

Khác với các tài sản hữu hình như máy móc hay nhà xưởng, vốn giảm giá trị theo thời gian, dữ liệu có thể tích lũy và gia tăng giá trị khi được khai thác nhiều hơn. Một tập dữ liệu khách hàng, chẳng hạn, có thể đồng thời phục vụ marketing cá nhân hóa, tối ưu chuỗi cung ứng, huấn luyện mô hình AI và phát triển sản phẩm mới.

Thực tế tại nhiều doanh nghiệp, dữ liệu đang tạo ra những thay đổi rõ rệt trong cách vận hành và ra quyết định. Đại diện Vinamilk khẳng định, dữ liệu đang đóng vai trò trung tâm trong quản trị chuỗi cung ứng của doanh nghiệp. Hệ thống dữ liệu được khai thác xuyên suốt từ thị trường đến nhà máy, bao gồm dữ liệu bán hàng theo vùng và SKU, tồn kho trong hệ thống phân phối, năng lực thiết bị và hiệu suất vận hành (OEE), cũng như dữ liệu về công thức, định mức nguyên vật liệu, năng lượng và nhân công.

Việc số hóa và kết nối dữ liệu giúp chuỗi cung ứng vận hành linh hoạt hơn.

Việc số hóa và kết nối dữ liệu giúp chuỗi cung ứng vận hành linh hoạt hơn.

Việc tích hợp và phân tích các nguồn dữ liệu này giúp Vinamilk nâng cao độ chính xác trong lập kế hoạch sản xuất - cung ứng, tối ưu tồn kho, khai thác hiệu quả năng lực sản xuất giữa các nhà máy và các vùng miền, nâng cao hiệu suất sử dụng máy móc thiết bị và chủ động bảo trì thiết bị, từ đó nâng cao năng suất và kiểm soát chi phí. Theo doanh nghiệp, việc số hóa và kết nối dữ liệu đã giúp chuỗi cung ứng vận hành linh hoạt hơn, phản ứng nhanh hơn với biến động thị trường, đồng thời hình thành hệ sinh thái số toàn diện kết nối dữ liệu sản xuất, chuỗi cung ứng, phân phối và tương tác với nhà bán lẻ, người tiêu dùng.

Tuy nhiên, quá trình khai thác và chia sẻ dữ liệu trong chuỗi cung ứng cũng đặt ra nhiều thách thức. Đại diện Vinamilk cho biết, hệ thống công nghệ thông tin giữa các đối tác trong chuỗi cung ứng chưa đồng bộ, mức độ số hóa và khả năng tích hợp khác nhau. Nhiều doanh nghiệp vẫn trao đổi dữ liệu thông qua file rời, chưa có nền tảng kết nối chuẩn, dẫn đến khó khăn trong việc chia sẻ dữ liệu theo thời gian thực và bảo đảm tính toàn vẹn, bảo mật.

Bên cạnh đó, định nghĩa, cấu trúc và chất lượng dữ liệu giữa các bên có thể chưa thống nhất, ảnh hưởng đến độ tin cậy của dữ liệu khi phân tích và ra quyết định chung trong chuỗi cung ứng.

Đối với các dữ liệu nhạy cảm như thông tin khách hàng, giá mua bán, năng lực sản xuất hay kế hoạch cung ứng, doanh nghiệp cần luôn tuân thủ chặt chẽ các quy định pháp luật liên quan đến bảo mật và bảo vệ dữ liệu, đồng thời xây dựng các điều khoản hợp đồng và thỏa thuận bảo mật (NDA) rõ ràng với đối tác. Đây là yếu tố quan trọng để doanh nghiệp vừa chia sẻ dữ liệu hiệu quả, vừa bảo đảm an toàn thông tin trong toàn chuỗi cung ứng.

Rõ ràng, dữ liệu không còn là nguồn lực riêng của các doanh nghiệp công nghệ. Từ giao thông, tài chính đến bán lẻ và nông nghiệp, dữ liệu đang trở thành nền tảng cho đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất của toàn bộ nền kinh tế.

Nhờ các công cụ phân tích và dự báo, doanh nghiệp có thể rút ngắn thời gian ra quyết định, dự đoán xu hướng tiêu dùng, tối ưu chuỗi cung ứng và cá nhân hóa dịch vụ.

Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa khai thác đầy đủ giá trị của dữ liệu do dữ liệu còn phân tán ở nhiều hệ thống khác nhau như CRM, ERP, bảng tính nội bộ hay các nền tảng thương mại điện tử và mạng xã hội. Dữ liệu không được kết nối thành một nguồn dùng chung, doanh nghiệp khó có cái nhìn toàn diện về khách hàng và thị trường, việc phân tích dữ liệu hay triển khai AI cũng gặp nhiều khó khăn.

Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp vẫn đang từng bước hoàn thiện năng lực quản trị dữ liệu, từ xây dựng quy trình nội bộ, phân quyền truy cập đến bảo đảm quyền riêng tư của người dùng và tuân thủ các quy định về bảo vệ dữ liệu. Khi dữ liệu trở thành tài sản cốt lõi của nền kinh tế số, quản trị dữ liệu hiệu quả không chỉ là yêu cầu pháp lý mà còn là điều kiện để doanh nghiệp xây dựng niềm tin và phát triển bền vững trên thị trường số.

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Phó Chủ tịch Hiệp hội An ninh mạng quốc gia Phạm Tiến Dũng cho biết, việc xây dựng hệ sinh thái AI không chỉ dừng ở khía cạnh công nghệ mà cần cách tiếp cận tổng thể, từ quản trị dữ liệu, quản trị rủi ro đến bảo đảm an ninh mạng ngay từ giai đoạn thiết kế hệ thống và xuyên suốt quá trình vận hành.

Bên cạnh những thách thức trong chuyển đổi số, thách thức lớn hơn đối với doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là chuyển từ “doanh nghiệp số” sang “doanh nghiệp dữ liệu”, nơi dữ liệu trở thành nền tảng cho mọi quyết định và mô hình kinh doanh.

Kỹ thuật viên điều phối hoạt động kho bãi tại phòng điều hành NOC, Công viên Logistic Viettel Lạng Sơn. Ảnh: QUỐC ĐẠT

Kỹ thuật viên điều phối hoạt động kho bãi tại phòng điều hành NOC, Công viên Logistic Viettel Lạng Sơn. Ảnh: QUỐC ĐẠT

Từ doanh nghiệp dữ liệu đến động lực tăng trưởng mới

Để chuyển từ doanh nghiệp số sang doanh nghiệp dữ liệu, điều quan trọng không chỉ là đầu tư công nghệ mà còn phải có chiến lược dữ liệu rõ ràng ở cấp lãnh đạo. Doanh nghiệp cần từng bước xây dựng kiến trúc và cơ chế quản trị dữ liệu hiện đại, thay vì triển khai rời rạc theo từng dự án. Theo nhiều chuyên gia, cách tiếp cận phù hợp là bắt đầu từ một số bài toán mang lại hiệu quả nhanh như dự báo nhu cầu, tối ưu tồn kho, phát hiện gian lận hay cá nhân hóa bán hàng, từ đó mở rộng dần sang các mô hình dữ liệu quy mô lớn hơn.

Từ góc nhìn doanh nghiệp công nghệ, theo Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch điều hành Tập đoàn Công nghệ CMC Nguyễn Trung Chính, Việt Nam đã có nhiều năm tăng trưởng dựa trên mở rộng lực lượng lao động, tích lũy vốn đầu tư và thúc đẩy xuất khẩu. Tuy nhiên, khi bước sang giai đoạn phát triển cao hơn, mô hình này dần bộc lộ những giới hạn khi lợi thế lao động chi phí thấp suy giảm và áp lực cạnh tranh chuyển sang năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Dữ liệu cần được nhìn nhận như một yếu tố sản xuất mới của nền kinh tế, còn AI là công cụ then chốt để chuyển hóa dữ liệu thành tri thức, sản phẩm và dịch vụ. Nếu dữ liệu là “nguyên liệu” của nền kinh tế số thì AI chính là “động cơ” tạo ra giá trị mới từ nguồn nguyên liệu ấy.

Ba cơ chế có thể tạo bứt phá cho kinh tế dữ liệu và AI gồm: nâng cao năng suất lao động trên diện rộng; hình thành các ngành kinh tế mới như dữ liệu như một dịch vụ hay AI như một dịch vụ; đồng thời tái cấu trúc các ngành hiện hữu như sản xuất, tài chính, y tế, logistics và nông nghiệp theo hướng thông minh và hiệu quả hơn. Giá trị kinh tế của dữ liệu vì thế không chỉ được quyết định bởi thể chế, mà còn được kiểm chứng ngay trong thực tiễn vận hành của doanh nghiệp.

Kinh tế dữ liệu và AI chỉ bứt phá khi hình thành thị trường dữ liệu tin cậy, nơi dữ liệu được chuẩn hóa, có thể giao dịch, có cơ chế định giá và được bảo vệ bởi một hệ thống pháp lý minh bạch.
Tiến sĩ Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội

Đối với việc nâng cao năng lực khai thác dữ liệu của doanh nghiệp và xã hội, theo Giáo sư Trần Ngọc Anh, Đại học Indiana (Mỹ), Chủ tịch Viện Sáng kiến Việt Nam và thành viên Tổ tư vấn Nghị quyết 57-NQ/TW, lợi thế về quy mô dân số, tốc độ chuyển đổi số và thị trường tiêu dùng đang mở ra cơ hội để Việt Nam từng bước trở thành trung tâm dữ liệu và AI đáng tin cậy của khu vực.

Ông cho rằng khi dữ liệu kết hợp với AI, giá trị có thể được tạo ra liên tục theo mô hình “vòng xoáy 4T: Thu thập - Tinh luyện - Triển khai - Tái tạo”, từ đó thúc đẩy năng suất, đổi mới sáng tạo và hình thành các mô hình kinh doanh mới trên quy mô toàn nền kinh tế.

Giai đoạn 2026-2030 được xem là thời kỳ then chốt để Việt Nam chuyển từ xây dựng nền tảng sang khai thác giá trị dữ liệu. Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ và chuyển dịch chuỗi giá trị toàn cầu ngày càng mạnh mẽ, kinh tế dữ liệu mở ra cơ hội để Việt Nam rút ngắn khoảng cách phát triển và hình thành các ngành công nghiệp mới.

Đánh giá của Mạng lưới Chuyên gia Dữ liệu toàn cầu (VDEN), Việt Nam có thể đi nhanh nhưng phải đi đúng, dựa trên bốn trụ cột của Nghị quyết 57-NQ/TW: thể chế, hạ tầng, nhân lực và dữ liệu. Trong cấu trúc đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, doanh nghiệp là lực lượng thương mại hóa, còn startup và nhân tài công nghệ là động lực của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

Hệ thống tín chỉ xanh P-Coin, hệ thống tín chỉ số nội bộ dành cho các hoạt động như đạp xe, nhặt rác, trồng cây hay hiến máu tình nguyện... Ảnh: MINH VÂN

Hệ thống tín chỉ xanh P-Coin, hệ thống tín chỉ số nội bộ dành cho các hoạt động như đạp xe, nhặt rác, trồng cây hay hiến máu tình nguyện... Ảnh: MINH VÂN

Một số đề xuất chính sách cũng đang hướng tới hình thành quỹ đầu tư và các cơ chế hỗ trợ để thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm dữ liệu trong nền kinh tế số. Với quy mô dân số gần 100 triệu người, tốc độ chuyển đổi số nhanh và thị trường dữ liệu ngày càng mở rộng, Việt Nam đang có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành công nghiệp dữ liệu và AI.

Kiến trúc dữ liệu quốc gia được hoàn thiện, thị trường dữ liệu vận hành minh bạch và nguồn nhân lực được bồi đắp, dữ liệu có thể trở thành nền tảng cho một mô hình tăng trưởng mới dựa trên tri thức và công nghệ.

Khi dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối và khai thác hiệu quả, nguồn tài nguyên số tiềm năng có thể trở thành động lực phát triển thực chất của nền kinh tế. Trong kỷ nguyên số, quốc gia nào tổ chức và vận hành dòng chảy dữ liệu hiệu quả hơn sẽ nắm lợi thế cạnh tranh lớn hơn. Với những nền tảng đang dần hình thành, kinh tế dữ liệu có thể trở thành một trong những trụ cột tăng trưởng mới của Việt Nam trong thập niên tới.

Định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026-2030

Xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực. Xác định các động lực tăng trưởng mới và lấy khoa học, công nghệ là trọng tâm để thúc đẩy, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống.

(Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng)

Ngày xuất bản: 26/04/2026
Chỉ đạo: Đinh Song Linh
Tổ chức sản xuất: Doãn Trà My
Nội dung và trình bày: Doãn Trà My - Vũ Quỳnh Trang - Trần Duy Long
Ảnh: Hiệp hội Dữ liệu quốc gia, FPT Digital, Viettel.