Phát triển nhân lực theo tiêu chuẩn quốc tế
Đề án đặt mục tiêu xây dựng nguồn nhân lực đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, bảo đảm chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử, đồng thời bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân.
Theo Quyết định, phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử là nhiệm vụ trọng tâm, then chốt, có tính chiến lược lâu dài. Công tác đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với khung năng lực của từng nhóm đối tượng, từng vị trí việc làm và yêu cầu đầu ra về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân, an ninh hạt nhân.
Đề án xác định ba nhóm nhân lực chính được đào tạo, bồi dưỡng. Nhóm thứ nhất là nhân lực quản lý nhà nước, gồm nhân lực tại cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
Nhóm thứ hai là nhân lực nghiên cứu-phát triển và hỗ trợ kỹ thuật, gồm nhân lực thuộc các tổ chức khoa học và công nghệ công lập, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức khoa học và công nghệ ngoài công lập, doanh nghiệp, cơ sở ứng dụng và các tổ chức khác có hoạt động nghiên cứu-phát triển, hỗ trợ kỹ thuật trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
Nhóm thứ ba là nhân lực ứng dụng năng lượng nguyên tử, gồm nhân viên bức xạ tại các cơ sở tiến hành công việc bức xạ, trừ nhân lực phục vụ dự án nhà máy điện hạt nhân được đào tạo theo đề án khác hoặc do chủ đầu tư dự án thực hiện.
Về mục tiêu đến năm 2030, Đề án đặt ra yêu cầu 100% nhân lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử ở trung ương và địa phương được đào tạo, bồi dưỡng, đủ năng lực thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân, an ninh hạt nhân và ứng dụng năng lượng nguyên tử.
Cũng đến năm 2030, tối thiểu 50% nhân lực của cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia được đào tạo, bồi dưỡng đủ năng lực phục vụ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, thẩm định, đánh giá, thanh tra, giám sát an toàn và an ninh đối với nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu.
Đề án cũng phấn đấu tối thiểu 30% nhân lực của cơ quan này được đào tạo, bồi dưỡng và tích lũy kinh nghiệm tại các cơ quan quản lý, tổ chức hỗ trợ kỹ thuật, cơ sở điện hạt nhân ở nước ngoài, qua đó hình thành đội ngũ chuyên gia nòng cốt có năng lực phục vụ thẩm định cấp phép nhà máy điện hạt nhân và lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu.
Đối với nhân lực nghiên cứu-phát triển, đến năm 2030, Đề án đặt mục tiêu hình thành đội ngũ nòng cốt có trình độ cao, đủ năng lực tiếp thu, làm chủ, chuyển giao và phát triển công nghệ trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, phục vụ triển khai điện hạt nhân và mở rộng ứng dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ trong các ngành kinh tế-xã hội.
Đối với nhân lực hỗ trợ kỹ thuật, đề án hướng tới hình thành đội ngũ nòng cốt có năng lực tham gia đánh giá, thẩm định các lĩnh vực an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân. Đồng thời, 100% nhân lực hỗ trợ kỹ thuật của cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử được bồi dưỡng để hỗ trợ công tác thẩm định, thanh tra, kiểm tra, quan trắc phóng xạ môi trường và ứng phó sự cố.
Từng bước làm chủ công nghệ và giám sát an toàn hạt nhân
Đến năm 2035, Đề án đặt yêu cầu cao hơn. Nhân lực cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia phải tự chủ được 70% năng lực thẩm định, đánh giá, thanh tra, kiểm tra, giám sát an toàn và an ninh các dự án điện hạt nhân, đồng thời đạt 100% đối với dự án lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu.
Đề án cũng đặt mục tiêu phát triển đội ngũ nghiên cứu-phát triển nòng cốt có khả năng làm chủ, cải tiến và phát triển công nghệ nhiên liệu hạt nhân, công nghệ chế biến và sử dụng đất hiếm; phấn đấu có 4-5 nhóm nghiên cứu có khả năng làm chủ một số công nghệ hạt nhân hỗ trợ các dự án điện hạt nhân, bao gồm lò phản ứng mô-đun nhỏ và lò phản ứng nghiên cứu.
Tầm nhìn đến năm 2050 là hình thành và phát triển lực lượng chuyên gia trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử theo hướng đồng bộ, gồm đội ngũ chuyên gia khoa học-công nghệ nòng cốt và chuyên gia kỹ thuật chuyên sâu.
Lực lượng này phải đáp ứng yêu cầu triển khai, đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật cho cơ quan quản lý nhà nước, các cơ sở, dự án hạt nhân, bao gồm nhà máy điện hạt nhân; từng bước tham gia chuỗi giá trị hạt nhân toàn cầu và cung cấp dịch vụ kỹ thuật, đào tạo ở tầm khu vực và quốc tế.
Về hình thức đào tạo, Đề án nêu các loại hình gồm bồi dưỡng ngắn hạn, bồi dưỡng cơ bản, bồi dưỡng nâng cao, đào tạo chuyên sâu, đào tạo tại chỗ, đào tạo cho giảng viên, đào tạo sau đại học và đào tạo an toàn bức xạ.
Các cơ sở đào tạo trọng điểm được giao nhiệm vụ gồm Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Trường đại học Đà Lạt, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam và các cơ sở do Bộ Khoa học và Công nghệ lựa chọn đủ năng lực.
Đề án yêu cầu ưu tiên phát triển chương trình chuyên sâu theo chuẩn quốc tế; biên soạn, số hóa, cập nhật giáo trình, học liệu; xây dựng ngân hàng phần mềm mô phỏng hiện đại; thí điểm trước tại các cơ sở đào tạo trọng điểm và trung tâm đào tạo thực hành. Việc đào tạo được tổ chức theo nhiều hình thức như trực tiếp, trực tuyến, mô phỏng, thực tập; đồng thời có sát hạch, đánh giá năng lực và cấp chứng chỉ theo quy định.
Một nội dung đáng chú ý là đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo nhân lực năng lượng nguyên tử. Đề án yêu cầu liên kết với các nước có công nghệ hạt nhân tiên tiến, các cơ sở đào tạo hạt nhân uy tín trên thế giới; xây dựng hệ thống đào tạo và cấp chứng chỉ song bằng; tham gia mạng lưới đào tạo khu vực, quốc tế. Việt Nam cũng sẽ thu hút chuyên gia nước ngoài, chuyên gia và nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài tham gia đào tạo, bồi dưỡng và chuyển giao tri thức.
Đề án cũng đặt nhiệm vụ triển khai chuyển đổi số trong đào tạo và quản lý nhân lực. Cụ thể, ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo trong lập kế hoạch, tổ chức đào tạo, đánh giá nhân lực; xây dựng cơ sở dữ liệu về đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực năng lượng nguyên tử; chuẩn hóa, hệ thống hóa, số hóa toàn bộ dữ liệu nhân lực và chương trình đào tạo, hình thành nền tảng dữ liệu mở phục vụ hoạch định dài hạn.
Về tổ chức thực hiện, Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành triển khai đề án; hướng dẫn, kiểm tra, giám sát; điều tra, đánh giá nhu cầu đào tạo hằng năm; ban hành khung năng lực, khung chương trình đào tạo, bồi dưỡng; đề xuất cơ chế, chính sách đặc thù về tài chính, đãi ngộ, thu hút và sử dụng nhân lực làm việc trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.