Những biến đổi của khí hậu toàn cầu đã làm gia tăng thiên tai trên trái đất. Cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam đã phải gánh chịu nhiều thiệt hại về người, tài sản do thiên tai gây ra, ảnh hưởng nghiêm trọng tới nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội đất nước, nhất là các vùng trọng điểm của bão, lụt.
Mức độ thiên tai đang gia tăng
Có thể nhận định rằng: Năm 1996 lũ, bão xảy ra cực kỳ nghiêm trọng trên phạm vi cả nước, là năm bắt đầu của hàng loạt các trận bão, lũ ác liệt trong những năm kế tiếp. Tháng 8-1996, xảy ra trận lũ lớn nhất thế kỷ trên sông Ðà, lũ trên sông Hồng cao xấp xỉ mức thiết kế của đê Hà Nội, vượt lũ năm 1986 và chỉ thấp hơn mức lũ năm 1971. Trong đợt lũ này, thị trấn Mường Lay và thị xã Lai Châu bị lũ quét lớn chưa từng có. Sau trận lũ quét này, thị trấn Mường Lay phải di dời đi nơi khác. Cũng trong mùa mưa bão năm 1996, đê sông Bưởi (Thanh Hóa) bị vỡ do trận lũ lịch sử, mức nước tràn qua mặt đê gây ra; áp thấp nhiệt đới xảy ra sát vùng bờ biển huyện Hải Hậu (Nam Ðịnh), gây thiệt hại nghiêm trọng đối với ngư dân huyện Hậu Lộc (Thanh Hóa); lũ lớn xảy ra ở đồng bằng sông Cửu Long, gây nhiều thiệt hại về người và tài sản. Thiên tai xảy ra trong năm 1996 đã làm 1.200 người chết, thiệt hại về vật chất hơn 7.000 tỷ đồng.
Tháng 11-1997, cơn bão số 5 đi vào các tỉnh miền Tây Nam Bộ đã gây ra thảm họa đối với nhân dân các tỉnh ven biển đồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) làm chết 2.900 người, gần năm nghìn tàu thuyền bị chìm và hư hỏng, 107.892 ngôi nhà bị sập. Sau cơn bão này là thời kỳ hạn hán nghiêm trọng kéo dài từ cuối năm 1997 đến mùa mưa năm 1998 ở các tỉnh Tây Nguyên, miền trung và Ðông Nam Bộ do Elnino gây ra, làm khoảng 5,5 triệu người thiếu nước sinh hoạt, thiệt hại nặng nề đối với sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi gia súc, gia cầm. Sau trận Elnino này, các tỉnh miền Trung liên tiếp gánh chịu hai trận lũ lớn ở mức lịch sử xảy ra vào đầu tháng 11 và đầu tháng 12-1999, cướp đi sinh mạng của 715 người, gần một triệu ngôi nhà bị ngập, hàng nghìn nhà bị lũ cuốn trôi. Thiệt hại về kinh tế ước gần năm nghìn tỷ đồng.
Đường phố thị trấn Mộc Hòa (Long An) ngày ngập lũ.
Ba năm 2000-2002 lũ lớn liên tiếp xảy ra trên hệ thống sông Cửu Long; trong đó mức lũ năm 2000 lớn tương đương mức lũ lịch sử xảy ra năm 1961, nhiều nơi ngập sâu hơn lũ lịch sử. Ðây là trận ngập lụt nghiêm trọng nhất trong vòng 70 năm qua. Ba trận lũ lớn này làm chết 1.044 người, gần 1,6 triệu lượt hộ ngập nhà cửa, thiệt hại về vật chất gần 6.000 tỷ đồng; trong đó riêng năm 2000, lũ làm chết 481 người, thiệt hại vật chất gần 4.000 tỷ đồng. Năm 2002, trên hệ thống sông Hồng lại xảy ra một trận lũ lớn đứng thứ tư từ sau trận lũ lịch sử năm 1971. Lũ cao làm xuất hiện hàng trăm sự cố về đê điều như sạt lở, rò rỉ, mạng đùn, mạch sủi trên các tuyến đê thuộc hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình, uy hiếp nghiêm trọng đến an toàn đối với các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng.
Năm 2003, lũ trên các sông ở Bắc Bộ thấp vào loại hiếm thấy. Mức lũ cao nhất trên sông Hồng tại Hà Nội chưa tới cấp báo động 1; trong khi đó đầu tháng 9, các tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ lại xảy ra một đợt mưa lớn hiếm thấy trong lịch sử, ngập hầu hết diện tích canh tác của tỉnh Thái Bình và nhiều diện tích lúa của hai tỉnh Nam Ðịnh, Ninh Bình. Giữa tháng 11-2003, các tỉnh ven biển từ Quảng Nam đến Ninh Thuận chịu một đợt lũ cao hơn báo động 3, một số sông vượt mức lũ lịch sử, làm chết 65 người, 33 người bị thương, thiệt hại vật chất khoảng 480 tỷ đồng...
| Theo số liệu của Ban chỉ đạo PCLB T.Ư, 26 năm qua, từ 1976 (bắt đầu có số liệu thống kê trên cả nước) đến hết năm 2003, thiệt hại do lũ, bão, lốc, lũ quét làm chết và mất tích 15.835 người, mất trắng 2,7 triệu ha lúa, chìm 22.766 tàu thuyền, phá hủy và hư hại 13,4 triệu ngôi nhà; thiệt hại vật chất ước tính hơn 3,5 tỷ USD. Chỉ tính trong 10 năm (1994-2003) thiên tai đã làm 8.355 người chết (chiếm gần 53% của 26 năm qua), chìm hơn 8.500 tàu thuyền (chiếm hơn 37%), hơn 7,4 triệu ngôi nhà bị phá hủy và hư hại (hơn 55%); tổng thiệt hại về vật chất hơn 2,9 tỷ USD (chiếm gần 83%). Số liệu thống kê này cho thấy, mức độ thiên tai và thiệt hại do nó gây ra ở nước ta gia tăng đáng kể trong những năm gần đây. |
Bão số 2 vừa ảnh hưởng vào Bình Ðịnh thời gian qia là sớm và trái quy luật thời tiết ở Việt Nam. Mặc dù ngành khí tượng - thủy văn đã dự báo sớm và khá chính xác hướng di chuyển, cường độ và phạm vi ảnh hưởng của bão số 2, Thủ tướng Chính phủ, Ban chỉ đạo PCLB T.Ư, Ban chỉ huy PCLB các ngành, các tỉnh đã có công văn chỉ đạo việc đối phó, bão số 2 vẫn làm 20 người chết, 22 người mất tích, 22 người bị thương, sập 345 nhà, chìm tám tàu thuyền... là thiệt hại không nhỏ. Sau mỗi trận thiên tai, cần phải kịp thời rút kinh nghiệm, xác định rõ nguyên nhân và đánh giá mức độ thiệt hại để từng bước khắc phục những yếu kém có trọng tâm, trọng điểm, không thể kết luận chung chung.
Bài học từ việc phòng chống thiên tai những năm qua
Thiệt hại do bão, lũ, lốc, lũ quét gây ra ở nước ta trong khoảng mười năm trở lại đây rất nặng nề, nghiêm trọng, do nhiều nguyên nhân gây ra, song có thể chia thành hai yếu tố chính: khách quan và chủ quan.
Nguyên nhân khách quan: thiên tai vượt quá sức chống đỡ của chúng ta, như thiên tai xảy ra bất ngờ, trên phạm vi hẹp như lốc, lũ quét và một số cơn bão, ATNÐ hình thành gần vùng bờ biển. Những trận lũ quét xảy ra ở Lai Châu, Hà Tĩnh cũng là những minh chứng điển hình. Những cơn bão, ATNÐ hình thành ngay trên Biển Ðông thường gây rất nhiều khó khăn cho tàu thuyền né tránh để thoát ra khỏi vùng nguy hiểm. Cơn bão số 2 vừa đổ bộ vào Bình Ðịnh ngày 12-6-2004 là ví dụ điển hình. Cơn bão được dự báo sớm, chỉ đạo đối phó kịp thời nhưng do bão đi nhanh đã gây khó khăn lớn cho công tác phòng tránh của các phương tiện đánh cá trên biển.
Về nguyên nhân chủ quan: Hệ thống phòng, chống lũ, lụt, bão ở Việt Nam trong nhiều năm qua đã được tăng cường đầu tư để củng cố, nâng cấp nhưng chưa đáp ứng Trần Ðặng