Bước tiến mới của hệ thống cảng biển

Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt ra mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, thịnh vượng, bền vững trên cơ sở phát huy tiềm năng, lợi thế biển.

Khi hạ tầng cảng biển, logistics, công nghiệp và doanh nghiệp được kết nối đồng bộ sẽ tạo ra sức lan tỏa. Ảnh: Khiếu Minh
Khi hạ tầng cảng biển, logistics, công nghiệp và doanh nghiệp được kết nối đồng bộ sẽ tạo ra sức lan tỏa. Ảnh: Khiếu Minh

Thực tiễn tại một số trung tâm kinh tế biển cho thấy, khi hạ tầng cảng biển, logistics, công nghiệp và doanh nghiệp được kết nối đồng bộ sẽ tạo ra sức lan tỏa, phát triển “nhảy vọt” đối với kinh tế vùng và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Ghi dấu ấn trên bản đồ hàng hải quốc tế

Theo Báo cáo về Chỉ số hiệu suất cảng container (CPPI) năm 2025 của Ngân hàng Thế giới (WB) phối hợp S&P Global Market Intelligence công bố, cảng Cái Mép và Hải Phòng năm thứ 2 liên tiếp ghi dấu ấn trên bản đồ hàng hải toàn cầu và nằm trong Top 20 cảng có hiệu suất tốt nhất thế giới, vượt qua nhiều cảng biển lớn trong khu vực.

Theo đó, Cảng Cái Mép đứng thứ 11 thế giới với 122 điểm, Cảng Hải Phòng xếp thứ 13, chỉ sau một số cảng hàng đầu thế giới như: Phúc Châu, Đại Liên, Ninh Ba, Hong Kong (Trung Quốc); Salalah (Oman) hay Kobe (Nhật Bản).

Hải Phòng là địa phương hội tụ đầy đủ 5 loại hình giao thông, với đường cao tốc Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh; Cảng Hàng không quốc tế Cát Bi có thể tiếp nhận các loại tàu bay thân rộng; tuyến đường sắt cao tốc Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng đang chuẩn bị đầu tư; hệ thống cảng biển hiện đại với cảng nước sâu có thể tiếp nhận tàu trọng tải hơn 200.000 tấn và kết nối trực tiếp đến các cảng biển chính ở châu Âu, châu Mỹ.

Năm 2025 vừa qua chứng kiến sự phát triển “bùng nổ” của cảng biển Hải Phòng khi Tập đoàn Hateco khánh thành Cảng container quốc tế Hateco Hải Phòng (HHIT), được đầu tư hoàn toàn bằng nguồn vốn tư nhân, có khả năng tiếp nhận cùng lúc 2 tàu container cỡ lớn lên tới 200.000 DWT (hơn 18.000 TEUs).

Công ty cổ phần Cảng Hải Phòng cũng khánh thành bến cảng số 3, số 4 (HTIT) tại khu bến Lạch Huyện, đủ khả năng tiếp nhận tàu 165.000DWT (14.000 TEUs) và tàu 200.000 DWT giảm tải, tổng năng lực xếp dỡ đạt 1,3-1,5 triệu TEUs/năm.

Khu bến Lạch Huyện đang khẳng định vị thế vươn ra biển lớn và phát triển đột phá về hạ tầng cảng biển của Hải Phòng, trở thành “mắt xích” quan trọng trên bản đồ hàng hải quốc tế.

Cục trưởng Hàng hải và Đường thủy Việt Nam (Bộ Xây dựng) Lê Đỗ Mười nhận định, với chính sách mở, thu hút mạnh mẽ nguồn vốn tư nhân, những năm gần đây cảng biển Việt Nam đã có bước phát triển nhảy vọt, khẳng định vị thế trên bản đồ hàng hải thế giới.

Giai đoạn 2010-2015, các cảng lớn như Hải Phòng, Sài Gòn, Đà Nẵng được vay vốn nước ngoài, đầu tư nâng cao năng lực xếp dỡ hàng hóa.

Tổng khối lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển và cảng thủy nội địa của Việt Nam 6 tháng qua ước đạt 687,5 triệu tấn, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2025; trong đó, sản lượng hàng hóa container đạt khoảng 18 triệu TEU, tăng 12%.

Theo Quy hoạch điều chỉnh nhóm cảng biển, bến cảng, cầu cảng giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 do Bộ Xây dựng vừa ban hành, nhu cầu vốn đầu tư hệ thống cảng biển của Việt Nam ước tính lên tới hơn 359.000 tỷ đồng (vốn đầu tư cho hạ tầng hàng hải công cộng khoảng 72.800 tỷ đồng và bến cảng khoảng 286.700 tỷ đồng, chỉ gồm bến cảng kinh doanh dịch vụ xếp dỡ hàng hóa).

Tổng nhu cầu sử dụng đất cho hệ thống cảng biển đến năm 2030 khoảng 34.000ha, gồm các khu vực phát triển cảng biển, trong đó cảng biển là 17.500ha.

Kết nối các phương thức vận tải

Thứ trưởng Xây dựng Nguyễn Xuân Sang đánh giá: Những năm qua, nhiều tập đoàn hàng đầu thế giới như APMT (Đan Mạch), PSA (Singapore), SSA Marine (Mỹ); các hãng tàu MOL, NYK Hoa Kỳ đã mạnh tay đổ tiền vào đầu tư tại các cảng lớn, hình thành hệ thống cảng biển hiện đại, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế trải dài từ bắc vào nam.

Hiện nay, cảng biển nước ta có thể đón được tàu trọng tải lớn nhất thế giới, cỡ hơn 200.000 DWT. Lấy cảng biển làm trung tâm kết nối, xây dựng dữ liệu logistics quốc gia và thúc đẩy chuyển đổi xanh, chuyển đổi số đang được xem là hướng đi then chốt để phát triển vận tải đa phương thức hiệu quả và bền vững.

Theo ông Sang, Bộ Xây dựng đang hoàn thiện quy hoạch chuyên ngành 5 phương thức vận tải, bảo đảm thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số.

Hiện nay, hệ thống cảng biển cả nước gồm 34 cảng với 320 bến, sản lượng hàng hóa thông qua cảng năm 2025 đạt hơn 960 triệu tấn, đưa Việt Nam vào nhóm quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực.

Tại Bộ luật Hàng hải và Đường thủy Việt Nam đang được xây dựng đã có các chính sách ưu tiên phát triển kết nối vận tải đa phương thức, có sự chung tay của doanh nghiệp trong cung ứng phát triển dịch vụ.

Đại diện Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam cho hay, thống kê của Tổ chức kinh tế-thương mại (Liên hợp quốc) UNCTAD cho thấy, khoảng 80-90% khối lượng thương mại hàng hóa toàn cầu được vận chuyển bằng đường biển, phần lớn các chuỗi logistics quốc tế đều được tổ chức xoay quanh các cảng biển trung tâm, có vai trò kết nối giữa vận tải biển với đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và hàng không.

Hiện nay, hệ thống cảng biển cả nước gồm 34 cảng với 320 bến, sản lượng hàng hóa thông qua cảng năm 2025 đạt hơn 960 triệu tấn, đưa Việt Nam vào nhóm quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực.

Tuy nhiên, quá trình phát triển cảng biển, logistics ở hầu hết các địa phương vẫn gặp vướng mắc về hạ tầng hàng hải, chưa bảo đảm độ sâu, thiếu thiết bị chuyên dụng, hiện đại để đón tàu trọng tải lớn hơn 200.000 DWT, kết nối vận tải đa phương thức chưa đồng bộ, liên kết giữa cảng biển với các phương thức vận tải khác còn hạn chế khiến chi phí logistics còn cao…

Với quan điểm lấy cảng biển là hạt nhân, thời gian tới, ngành hàng hải xác định 3 định hướng lớn: Phát triển cảng biển trở thành trung tâm tổ chức vận tải của quốc gia; thúc đẩy kết nối đa phương thức như một đột phá chiến lược để giảm chi phí logistics; đổi mới mô hình quản lý theo hướng tích hợp, dựa trên dữ liệu và chuỗi logistics.

Từ thực tế trên, đại diện các doanh nghiệp đã đề xuất nhiều giải pháp để phát triển hệ thống cảng biển bền vững, hiệu quả, ưu tiên đầu tư đồng bộ hệ thống kết nối dịch vụ sau cảng, đẩy mạnh đầu tư kết nối đường sắt với cảng biển.

Theo đó, cần nâng cấp hạ tầng đường thủy nội địa phục vụ vận tải container, quy hoạch và phát triển hệ thống ICD, depot và trung tâm logistics quy mô lớn.

Việc xây dựng, hình thành nền tảng dữ liệu logistics quốc gia, tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa doanh nghiệp logistics, cảng biển lớn, hãng tàu, hải quan và cơ quan quản lý nhà nước sẽ là nền tảng quan trọng để phát triển vận tải đa phương thức.

Có thể bạn quan tâm