Đổi mới mô hình phát triển kinh tế
Trong hành trình hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cấp bách phải chuyển đổi mạnh mẽ mô hình phát triển. Nghị quyết số 19-NQ/TW của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đặt ra tầm nhìn quan trọng về một mô hình kinh tế hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và hội nhập vào năm 2035. Đây không chỉ là sự thay đổi về mô hình kinh tế mà sâu xa hơn là sự thay đổi cách thức vận hành nền kinh tế, tổ chức lực lượng sản xuất, huy động, phân bổ, sử dụng nguồn lực và phát huy vai trò, sức mạnh của Nhà nước, doanh nghiệp...
Loạt bài viết “Đổi mới mô hình phát triển kinh tế” sẽ đi sâu làm rõ những nội dung cốt lõi của mô hình phát triển kinh tế mới, từ đó phác họa những động lực tăng trưởng và không gian phát triển mới của nền kinh tế Việt Nam.
Bài 1: Trụ cột kinh tế trong mô hình phát triển mới
Đổi mới mô hình phát triển thực chất là đổi mới cách thức nền kinh tế tạo ra giá trị, năng suất và năng lực cạnh tranh từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng dựa vào gia công, lắp ráp sang tăng trưởng theo chiều sâu nhờ lợi thế cạnh tranh bằng tri thức, công nghệ và năng suất.
40 năm Đổi mới, Việt Nam từ một nước lạc hậu đã vươn lên thành quốc gia có thu nhập trung bình cao nhờ mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên, lợi thế lao động và đẩy mạnh hội nhập quốc tế. Nhưng mỗi mô hình tăng trưởng đều có chu kỳ hiệu lực nhất định. Trong thời kỷ nguyên mới, yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam là phải xác lập mô hình phát triển mới nhằm cụ thể hóa đường lối, khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045 trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Từ tăng trưởng theo quán tính sang tăng trưởng theo kiến trúc
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đã định hình mô hình phát triển tổng thể quốc gia đến năm 2030, 2035, 2045 và định hướng đến năm 2130.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, mô hình phát triển mới của Việt Nam được hình thành đồng bộ trên các mô hình thành phần thuộc 7 lĩnh vực, gồm kinh tế; xã hội; văn hoá, con người; môi trường; quốc phòng, an ninh quốc gia; đối ngoại và hội nhập quốc tế, quản trị quốc gia. Trong đó, mô hình quản trị quốc gia có tính chất bao trùm; còn mô hình kinh tế hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và hội nhập là yếu tố nền tảng, là cơ sở tạo nên sức mạnh và nguồn lực để vận hành đồng bộ, hài hoà và hiệu quả các mô hình thành phần khác.
Như vậy, không chỉ là đổi mới mô hình tăng trưởng, Nghị quyết số 19-NQ/TW đặt ra yêu cầu cao hơn là đổi mới mô hình phát triển tổng thể quốc gia với tầm nhìn dài hạn và khát vọng phát triển đất nước giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Trong đó, phát triển kinh tế vẫn là mục tiêu trung tâm với 12 nhóm nhiệm vụ, giải pháp bao quát toàn diện như xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, nguồn nhân lực chất lượng cao, đổi mới các động lực tăng trưởng truyền thống và phát huy các động lực tăng trưởng mới; hoàn thiện phát triển các loại thị trường, xây dựng và triển khai chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá thế hệ mới;…
Tiến sĩ Nguyễn Bích Lâm, nguyên Cục trưởng Thống kê nhận định, sau 40 năm Đổi mới, hiện Việt Nam đang ở điểm đầu của bước chuyển đổi từ tăng trưởng theo quán tính sang tăng trưởng theo kiến trúc. Cụ thể là chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng dựa trên mở rộng đầu tư nhờ tăng vốn, lao động, thu hút đầu tư nước ngoài, khai thác lợi thế chi phí thấp sang mô hình tăng trưởng mà ở đó, Nhà nước chủ động thiết kế cấu trúc phát triển dài hạn bằng cách xác định ngành chiến lược, phân bổ nguồn lực tập trung, kiến tạo hệ sinh thái và điều phối chính sách liên ngành.
Để xây dựng một cấu trúc kinh tế với trung tâm là đổi mới sáng tạo đòi hỏi phải có sự phát triển đồng bộ từ hệ thống giáo dục và đào tạo nhân lực chất lượng cao; hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo; các trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ; môi trường thể chế khuyến khích đầu tư vào tri thức và công nghệ.
Những động lực cho kinh tế bứt phá
Theo các chuyên gia kinh tế, Việt Nam đã chính thức bước vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao theo tiêu chí phân loại của Ngân hàng Thế giới với thu nhập bình quân đầu người đạt 4.970 USD trong năm 2025 cùng kết quả duy trì tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu tích cực.
Tuy nhiên, để thoát bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam không thể tiếp tục đi theo con đường cũ với cách gia tăng đầu tư mà phải tạo ra nhiều giá trị hơn từ mỗi đơn vị vốn, lao động, đất đai và năng lượng. Số liệu thống kê cho thấy giai đoạn 2021-2024, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GDP mới đạt khoảng 39% trong khi đóng góp từ vốn và lao động lên đến khoảng 61%.
Thực tiễn cũng cho thấy, mô hình phát triển dựa chủ yếu vào vốn, lao động và lợi thế chi phí thấp đang giảm dần hiệu quả. Giai đoạn 2021-2025, tổng vốn đầu tư toàn xã hội vẫn duy trì khoảng 32% GDP, hệ số hiệu quả sử dụng vốn (ICOR) ở mức khoảng 6,4; năng suất lao động chỉ tăng bình quân 5,2%/năm, thấp hơn mục tiêu và còn khoảng cách khá xa so với các nước trong khu vực.
Trong bối cảnh đó, đổi mới mô hình phát triển Việt Nam không chỉ để tăng trưởng nhanh hơn mà là thay đổi phương thức tạo ra của cải và phát triển bền vững trong nhiều thập niên tới. Câu hỏi đặt ra là mô hình tăng trưởng mới sẽ được kiến tạo từ những động lực nào để tạo sự phát triển nhảy vọt cho nền kinh tế?
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thọ Đạt, Đại học Kinh tế quốc dân, mô hình tăng trưởng thường trả lời câu hỏi GDP tăng từ lao động, vốn, tài nguyên hay năng suất. Nhưng mô hình phát triển phải trả lời câu hỏi bao trùm hơn. Đó là tăng trưởng được tạo ra trong một cấu trúc thế nào, thành quả được phân bổ ra sao, tác động thế nào đến tăng năng lực tự chủ quốc gia, cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân.
Hạt nhân kinh tế của mô hình mới là ở ba bước chuyển đổi: Chuyển đổi động lực, lấy năng suất, tri thức, dữ liệu và đổi mới sáng tạo thay cho sự lệ thuộc quá mức vào vốn, tài nguyên và lao động giá rẻ; chuyển đổi vị thế, đưa doanh nghiệp Việt Nam lên nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu; chuyển đổi triết lý phát triển, lấy con người vừa là trung tâm, vừa là chủ thể, là nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu cao nhất của phát triển.
Điều này đòi hỏi thay đổi cách phân bổ nguồn lực để dòng vốn phải tìm đến nơi có năng suất và triển vọng, chảy nhiều hơn vào khu vực sản xuất thay vì dành tỷ trọng quá lớn cho bất động sản và đầu cơ.
Nhận định về động lực tăng trưởng trong mô hình phát triển mới, Tiến sĩ Nguyễn Đức Kiên, nguyên Tổ trưởng Tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ cho rằng, huy động nguồn lực tài chính nhà nước và nguồn lực đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) là động lực quan trọng; đổi mới sáng tạo cùng với nguồn nhân lực chất lượng cao luôn phải song hành để trên cùng một công nghệ, nền kinh tế đạt được năng suất và chất lượng cao hơn.
Bên cạnh đó, cần hướng đến mục tiêu phát triển doanh nghiệp Việt Nam để có khả năng hấp thụ công nghệ hiện đại, từ đó tận dụng khả năng về công nghệ, thị trường, xây dựng những doanh nghiệp công nghệ Việt Nam có khả năng hội nhập cao với kinh tế quốc tế.
Phát triển kinh tế là mục tiêu trung tâm trong mô hình phát triển mới
TS Nguyễn Đức Kiên, nguyên Tổ trưởng Tư vấn Kinh tế của Thủ tướng Chính phủ
Mô hình phát triển mới của Việt Nam là mô hình phát triển kinh tế-xã hội, không chỉ đơn thuần là mô hình kinh tế nên phải phát triển hài hòa mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất mới.
Vì vậy cần phát triển lực lượng sản xuất để tạo thành động lực và tạo kinh phí cho thực hiện bảo vệ môi trường và an sinh xã hội, phải lấy mục tiêu trong khoảng thời gian 20 năm xây dựng được lực lượng sản xuất nội địa đủ sức cạnh tranh với quốc tế và khu vực, góp phần bảo đảm tự lực, tự cường, bảo đảm tự chủ về kinh tế, tạo điều kiện bảo đảm an ninh đất nước và độc lập đối ngoại.
Việc phát triển lực lượng sản xuất, cụ thể là phát triển hệ thống doanh nghiệp Việt Nam không phân biệt chủ sở hữu là nhà nước hay tư nhân. Ưu đãi trong quá trình này phải được thực hiện nhất quán trong suốt 20 năm. Lúc này, quan điểm về hoàn thiện thể chế thực chất là hoàn thiện về quan hệ sản xuất mới định hướng cho lực lượng sản xuất phát triển theo hướng hoàn thiện nền kinh tế thị trường hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước ở đây được hiểu là cả Quốc hội, Chính phủ và chính quyền địa phương phải tạo điều kiện tối đa cho lực lượng sản xuất phát triển nhưng hài hòa lợi ích của doanh nghiệp, doanh nhân, lợi ích của xã hội và cuối cùng là lợi ích của Nhà nước.
Cần phải hiểu rõ chủ thể tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, trước mắt là doanh nghiệp, Nhà nước chỉ xây dựng thể chế để thu hút mọi thành phần, nguồn lực giúp doanh nghiệp có thể làm chủ một số công nghệ chiến lược. Tuy nhiên, cần lưu ý phải chọn những ngành công nghiệp có khả năng sử dụng lưỡng dụng kinh tế-quốc phòng để các doanh nghiệp có một thị trường đủ lớn hỗ trợ cho việc phát triển doanh nghiệp ở vòng hai.
Mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam chọn phát triển kinh tế là mục tiêu trung tâm. Tuy nhiên, cần phải làm rõ cơ sở khoa học công nghệ của nền kinh tế nói chung và chuyển đổi số nói riêng.
Chuyển đổi số bao gồm xử lý dữ liệu lớn và internet vạn vật chỉ là nền tảng giúp cho khoa học công nghệ được triển khai nhanh hơn với chi phí hợp lý hơn chứ chuyển đổi số không tạo ra đột biến về khoa học công nghệ trong các ngành sản xuất.
Ví dụ như ngành công nghiệp chế tạo máy, vấn đề cốt lõi là phải có hệ thống máy chế tạo công cụ đa năng và chuyển đổi số ở đây chính là tự động hóa điều khiển quá trình thao tác của hệ thống máy cơ khí, giảm sự can thiệp trực tiếp của con người vào quá trình vận hành của máy chứ chuyển đổi số không làm thay được máy công cụ.
Kiến trúc tăng trưởng mới của Việt Nam
Tiến sĩ Nguyễn Bích Lâm, nguyên Cục trưởng Thống kê (Bộ Tài chính)
Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong thập niên tới không chỉ là bài toán về tốc độ mà là về cách thiết kế lại nền kinh tế; không còn là tăng trưởng bao nhiêu phần trăm mà là tăng trưởng theo cấu trúc nào khi dư địa tín dụng không thể mở rộng, lao động giá rẻ thu hẹp và mô hình tăng trưởng theo quán tính đã tới hạn.
Lịch sử phát triển của nhiều quốc gia cho thấy mỗi nền kinh tế chỉ có một vài giai đoạn khi các điều kiện quốc tế, công nghệ và nội lực trong nước cùng hội tụ để tạo ra cơ hội cho bước phát triển nhảy vọt.
Đối với Việt Nam, giai đoạn 2026-2030 có thể là một thời điểm như vậy. Nếu tận dụng được giai đoạn này để nâng cấp cấu trúc kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp, Việt Nam có thể bước lên một nấc thang phát triển mới, nơi tăng trưởng được dẫn dắt bởi tri thức, công nghệ và năng suất.
Trong bối cảnh hiện nay, mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ là một mục tiêu về tốc độ, mà thực chất đặt ra yêu cầu về tái cấu trúc mô hình phát triển.
Chiến lược công nghiệp, năng lực đổi mới sáng tạo và vị trí của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị toàn cầu vì thế sẽ trở thành những yếu tố quyết định đối với khả năng hiện thực hóa mục tiêu này.
Câu hỏi chiến lược đối với nền kinh tế Việt Nam trong thập niên tới không chỉ là tăng trưởng bao nhiêu phần trăm mỗi năm mà là nền kinh tế sẽ đứng ở vị trí nào trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Có ba vị trí cơ bản trong chuỗi giá trị: Trung tâm sản xuất chi phí thấp, nơi doanh nghiệp chủ yếu thực hiện các công đoạn gia công và lắp ráp; trung tâm sản xuất công nghệ trung bình, nơi các doanh nghiệp bắt đầu tham gia sâu hơn vào thiết kế sản phẩm và sản xuất linh kiện; trung tâm đổi mới sáng tạo, nơi giá trị được tạo ra chủ yếu từ nghiên cứu, công nghệ và thương hiệu.
Mỗi vị trí này tương ứng với một cấu trúc kinh tế và hệ sinh thái phát triển khác nhau. Trong chuỗi giá trị toàn cầu, quốc gia nào kiểm soát tri thức sẽ kiểm soát giá trị. Trong thể chế phát triển kinh tế Việt Nam khi bước vào kỷ nguyên mới, tăng trưởng kinh tế không đơn thuần là kết quả của việc mở rộng quy mô vốn, lao động, mà là sản phẩm của một cấu trúc thể chế định hình phương thức phân bổ các nguồn lực của đất nước.
Đáng lưu ý, cấu trúc quyền lực kinh tế chính là yếu tố quyết định dòng chảy của vốn, tín dụng, đất đai, cơ hội phát triển. Khi cấu trúc này được tổ chức theo đặc quyền, tăng trưởng có thể đạt được về lượng nhưng khó bứt phá về chất.
Ngược lại, khi quyền tiếp cận nguồn lực được phân bổ theo nguyên tắc cạnh tranh, minh bạch và dựa trên năng lực tạo ra giá trị, nền kinh tế mới có điều kiện chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa vào năng suất, đổi mới sáng tạo với hiệu quả dài hạn.
Trong bối cảnh trật tự kinh tế toàn cầu đang tái định hình, lựa chọn chiến lược của Việt Nam không chỉ là chọn ngành, chọn thị trường hay đặt mục tiêu tăng trưởng cao hơn.
Điều quan trọng là thiết kế một hệ sinh thái phát triển có chủ đích, trong đó vai trò của Nhà nước được định hình lại theo hướng kiến tạo, cấu trúc quyền lực kinh tế được tổ chức để nguồn lực được phân bổ theo năng lực tạo ra giá trị. Đó không chỉ là điều kiện để đạt được tăng trưởng cao hơn, mà là nền tảng để tăng trưởng tốt hơn, bền vững hơn trong dài hạn.
Vấn đề cốt lõi của Việt Nam trong thập niên tới vì vậy không phải chỉ là tạo thêm động lực cho tăng trưởng, mà là thiết kế lại hệ sinh thái phát triển để mọi nguồn lực của đất nước, từ con người, thể chế, vốn, công nghệ, dữ liệu đến sức mạnh văn hóa và nội lực dân tộc được giải phóng, kết nối và chuyển hóa thành năng lực phát triển. Đó cũng là nền tảng để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Trong giai đoạn mang tính bản lề khi chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc, công nghệ AI và bán dẫn làm thay đổi cấu trúc sản xuất và áp lực chuyển đổi xanh, buộc doanh nghiệp phải nâng cấp công nghệ, nếu chủ động kiến tạo cấu trúc kinh tế phù hợp, Việt Nam sẽ tạo ra chu kỳ tăng trưởng mới và tiến lên nấc thang phát triển cao hơn. Ngược lại, nếu tiếp tục duy trì cấu trúc cũ, nền kinh tế sẽ đối mặt với chi phí cơ hội rất lớn, bị mắc kẹt ở khâu giá trị thấp.
Ngày xuất bản: 16/8/2026
Chỉ đạo thực hiện: Nguyễn Thị Thu Hà
Nội dung: Tô Hà
Trình bày: Việt Hải
Ảnh: Đăng Anh, Trần Thu Hà, Vũ Sinh, Phan Tuấn Anh, Phạm Đăng Khiêm, Nguyễn Tẫn Nghĩa, Hà Thanh
(Bài có sử dụng hỗ trợ của AI trong thiết kế)
