Vinalines đa dạng hóa dịch vụ hàng hải

(Nhân Dân)- Ðối với Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines), chủ động khai thác "biển lớn" với ý nghĩa đáp ứng yêu cầu chiến lược kinh tế biển và cam kết gia nhập WTO, vẫn phải vượt qua rất nhiều thách thức.

Đến năm 2010. Vinaliné trẻ hóa và đưa tổng trọng tải đội tàu lên 2,6 triệu tấn (gấp đôi hiện nay) theo hướng tăng tàu chuyên dùng (tàu container, tàu chở dầu và tàu chở hàng rời) cỡ lớn. Xây dựng thêm bến nước sâu và cảng nước sâu, bảo đảm năng lực thông qua các cảng đạt tối thiểu 50-55 triệu tấn/năm (gấp rưỡi hiện nay); nghiên cứu, huy động các nguồn lực đầu tư biến vịnh Văn Phong (Khánh Hòa) thành cảng trung chuyển quốc tế có quy mô lớn và hiện đại. Hiện đại hóa, mở rộng dịch vụ hàng hải và kinh doanh đa ngành: hoàn thành giai đoạn đầu hệ thống cơ sở vật chất cho hoạt động logistics (điều vận) và dịch vụ hàng hải ở ba vùng kinh tế trọng điểm phía bắc, phía nam và miền trung; đầu tư sang các lĩnh vực tài chính, ngân hàng và các ngành sản xuất, kinh doanh khác...

Từ yêu cầu này, nhìn lại hoạt động của Vinalines năm 2006 sẽ thấy, bên trong vẻ bình lặng, củng cố đoàn kết nội bộ và phát triển tiệm tiến, đang có sự sôi sục để chuẩn bị cho bước đột phá trong năm 2007 và các năm tiếp theo. Cụ thể là: Xây dựng, hoàn thiện chiến lược phát triển giai đoạn 2006-2010, định hướng đến năm 2020 (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tháng 10-2006) đưa tổng công ty thành tập đoàn kinh tế mạnh, giữ vai trò chủ lực của ngành hàng hải Việt Nam. Thực hiện đề án chuyển tổng công ty sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ-công ty con (được phê duyệt tháng 9-2006), năm 2007 sẽ cổ phần hóa bốn doanh nghiệp (DN) còn lại, chuyển bốn cảng lớn thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và sắp xếp các chi nhánh thành công ty hạch toán phụ thuộc. Ða dạng hóa ngành nghề kinh doanh, đã và đang thành lập hoặc tham gia góp vốn thành lập năm DN mới, tập trung vào lĩnh vực ngân hàng, tài chính (Công ty cổ phần Chứng khoán Thủ đô, Công ty Tài chính hàng hải và Ngân hàng thương mại cổ phần Bảo Việt) và dịch vụ (Công ty xuất khẩu lao động, Công ty cổ phần Logistics), chuẩn bị triển khai xây dựng hai nhà máy sửa chữa tàu biển ở phía bắc và nam...

Nguồn vốn ở đâu để thực hiện các chương trình, mục tiêu nói trên? Vinalines giao dịch, đàm phán với nhiều ngân hàng trong, ngoài nước, đồng thời đã trình Chính phủ đề án "Sử dụng, quản lý và hoàn trả nguồn vốn phát hành trái phiếu quốc tế trị giá 500 triệu USD của Chính phủ cho tổng công ty vay lại". Mặt khác, các hoạt động hợp tác, liên doanh, liên kết cũng diễn ra dồn dập như: Thỏa thuận với Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đầu tư xây dựng cụm cảng container và khu hậu cần dầu khí Bến Ðình-Sao Mai (Bà Rịa-Vũng Tàu).

Tham gia với tư cách cổ đông sáng lập Ngân hàng thương mại cổ phần Bảo Việt. Thỏa thuận với Tập đoàn SSA Marine (Hoa Kỳ) về đầu tư xây dựng thêm bến ở cảng Cái Lân (Quảng Ninh) và phát triển hệ thống logistics. Thỏa thuận với Tập đoàn ABC Maritime AG (Thụy Sĩ) về đào tạo và cung cấp tài chính. Nghiên cứu tham gia góp vốn xây dựng tổ hợp sân gôn và khu du lịch sinh thái Cam Ranh (Khánh Hòa)...

Như nhiều doanh nghiệp khác, cơ hội đối với Vinalines ở dưới dạng những công việc gian nan, phức tạp và đặt ra nhiều đòi hỏi rất cao: Từ sự đồng thuận đến tầm nhìn, năng lực, tay nghề của đội ngũ (gần 30 nghìn người) để thực hiện thắng lợi các dự án, chương trình cụ thể. Hơn thế nữa là khả năng liên kết các mục tiêu và nguồn lực, liên kết các lực lượng trong và ngoài ngành thành "hạm đội mạnh", đi đúng hướng và hoạt động mang lại hiệu quả thiết thực cho người lao động, DN và đất nước. Cho nên, bước đột phá trước hết chính là nỗ lực vượt qua chính mình, tạo cơ sở thông luồng "ra biển lớn" vững chắc, lâu dài...

Có thể bạn quan tâm