Văn hóa đọc và những giá trị cốt lõi

Khi bàn về văn hóa đọc, những lo ngại luôn được đặt ra: văn hóa đọc đang xuống cấp, làm sao để nâng cao văn hóa đọc? giá trị của văn học trong đời sống nghệ thuật và xã hội đương đại;… Những vấn đề đó chưa thể tìm ra đáp án hay cách thức giải quyết triệt để.

Bạn đọc tham quan Hội sách cũ Hà Nội tại sân Hồ Văn, thuộc Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội). Ảnh: Thủy Nguyên
Bạn đọc tham quan Hội sách cũ Hà Nội tại sân Hồ Văn, thuộc Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội). Ảnh: Thủy Nguyên

Còn nhiều câu hỏi khác ít tính vĩ mô hơn nhưng lại tập trung vào bản chất của vấn đề: Công chúng đang đọc gì? Cần và nên đọc cái gì? Văn hóa đọc trong sự phát triển cần hướng đến điều gì? Trước thực trạng đọc của công chúng hiện nay, dư luận cũng bày tỏ thái độ nhiều chiều. Người thì lạc quan, tin tưởng bởi đó là bản chất sinh động của đời sống, thể hiện quan niệm giá trị của mỗi người. Người lại lo âu về sự phát triển một cách rầm rộ của thị hiếu đại chúng, gắn với các giá trị nhất thời, giải trí, kém tinh hoa,… Câu chuyện văn hóa đọc sẽ trở nên rõ nét hơn trong lộ trình nâng cao các hệ giá trị của công chúng. Trong đó, có thể lưu ý đến một số vấn đề:

Thứ nhất, cộng đồng văn chương cần nhận thức về quy luật vận động, phát triển của xã hội. Xu hướng hội nhập, toàn cầu hóa, hướng đến những giá trị cốt lõi của con người đang là trung tâm của những vận động văn hóa, lịch sử, cấu trúc xã hội, thể chế nhà nước. Do đó, để thúc đẩy văn hóa, văn nghệ và nhu cầu, thị hiếu của người đọc phát triển, cần hướng đến những giá trị căn bản của nhân loại. Một xã hội văn minh là một xã hội coi trọng giá trị, nhân phẩm con người. Một khi, cộng đồng nhận thức một cách đầy đủ giá trị của con người, mong muốn đưa con người đến những tầm cao hơn của sự phát triển về tinh thần, tư tưởng, văn hóa, khi đó các cấu trúc sáng tác - phát hành - tiêu thụ, nhà văn - tác phẩm - người đọc sẽ vận hành theo những hệ giá trị có tính cốt lõi. Ðến nay, chúng ta vẫn phải nhắc lại những tác phẩm của Nguyễn Tuân (Vang bóng một thời…); Thạch Lam (Hai đứa trẻ, Dưới bóng hoàng lan, Cô hàng xén…); Nam Cao (Chí Phèo, Sống mòn…); Vũ Trọng Phụng (Số đỏ, Giông tố,…); Xuân Diệu (Thơ thơ, Gửi hương cho gió); Huy Cận (Lửa thiêng); Chế Lan Viên (Ðiêu tàn); Tô Hoài (Vợ chồng A Phủ, Dế mèn phiêu lưu ký…); Tố Hữu (Từ ấy, Việt Bắc…); Quang Dũng (Tây Tiến, Mắt người Sơn Tây…); Lê Lựu (Thời xa vắng); Nguyễn Khắc Trường (Mảnh đất lắm người nhiều ma)…; Rõ ràng, qua thời gian, những tên tuổi tác giả và tác phẩm đó vẫn ở lại trong lòng công chúng yêu văn học, yêu các giá trị tinh thần của dân tộc. Người đọc hôm nay, nhất là thế hệ trẻ có nhiều con đường để tiếp cận tri thức. Văn học không còn đứng ở vị trí là một loại hình tiên phong trong việc cung cấp tri thức, nhưng có thế mạnh trong giáo dục, nuôi dưỡng tâm hồn con người. Giá trị cốt lõi của văn học tiền chiến là những di sản của nền văn học trên con đường hiện đại hóa, giao lưu, tiếp biến với văn hóa phương Tây; từng bước đưa văn học Việt Nam rời khỏi đặc tính khu vực, vươn đến tính toàn cầu. Cốt lõi của văn học thời chiến (1945 - 1975) là một nền văn học sử thi, lãng mạn, bi tráng, kiêu hùng được viết nên bằng máu xương, bằng chủ nghĩa anh hùng cách mạng với khát vọng dâng hiến, dựng xây. Nền văn học sau giải phóng (1975), sau Ðổi mới (1986) cũng đang hướng đến những giá trị cốt lõi của thời đại như tập trung thể hiện mô hình con người bản thể, con người toàn cầu hóa với sự đa dạng, phong phú cả về đặc tính sinh học và văn hóa. Tuy nhiên, một số tác giả, tác phẩm của dòng văn học đại chúng, văn học mạng chưa đủ tạo dựng niềm tin trong công chúng về giá trị bền bỉ trước thời gian. Ðọc tác phẩm của các tác giả trẻ, nhất là văn học mạng, chúng ta nhận thấy những câu chuyện của tuổi trẻ với nhiều mộng mơ, tham vọng, có yêu thương, đau buồn,… nhưng còn khá hời hợt và thường mô tả, kể lể một cách đơn giản hơn là những đầu tư có chiều sâu về nghệ thuật, tư tưởng. Chính vì thế, dòng văn học này khó có thể đại diện cho di sản văn chương đương đại.

Thứ hai, cần nhận thức một cách toàn diện, sâu sắc về quy luật vận động và phát triển của văn học nghệ thuật. Văn học nghệ thuật phải lấy tư tưởng thẩm mỹ, tính nhân văn làm cốt lõi, hướng đến xây dựng hệ giá trị chân - thiện - mỹ cho con người. Muốn thế, cần tạo điều kiện tốt nhất để văn nghệ sĩ cùng các thành tố khác trong hệ thống văn học cùng phát triển. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, đổi mới và hội nhập sâu sắc như hiện nay, văn học Việt Nam muốn đi lên, sánh với các nền văn nghệ tiên tiến khác cần phải xác lập được bản sắc văn chương của mình. Công chúng chờ đón những giá trị đích thực, đáp ứng được nhu cầu đời sống, tinh thần của họ. Cho đến thời điểm hiện tại, văn học Việt Nam vẫn đang ghi nhận một nỗ lực không mệt mỏi hướng đến các giá trị cốt lõi của thế hệ nhà văn hậu chiến, như: Bảo Ninh, Chu Lai, Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Chiến; trẻ hơn là Nguyễn Phan Quế Mai, Vi Thùy Linh, Nguyễn Quang Hưng, Lữ Thị Mai... Không sôi nổi, ồn ào như các tác giả văn học mạng, văn học đại chúng, nhưng văn chương của họ luôn gợi lên niềm tin về khả năng duy trì sức lan tỏa trong đời sống văn nghệ, học thuật. Môi trường sáng tác, đổi mới cách viết, tái nhận thức quá khứ, khai thác những đề tài, chủ đề mới,… làm cho văn học đương đại thật sự là thế giới tinh thần của con người và thời đại hội nhập, toàn cầu hóa. Không viết về chiến tranh như Nguyễn Minh Châu nữa, chiến tranh qua suy nghiệm, chiêm nghiệm của Bảo Ninh, Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Ðình Tú, Doãn Dũng,… mang một hình hài, dáng vẻ khác. Vẫn đầy kiêu hãnh, nhưng cũng đầy đau thương, mất mát. Không còn là câu chuyện sử thi mà là câu chuyện được hình dung giữa đời thường, có lẽ vì thế mà chiến tranh trở nên kinh hoàng? Thời đại mới cho phép nhà văn tiếp cận hiện thực đa chiều, do đó, những giá trị căn bản của đời sống, của con người đã được nhìn một cách gần gũi hơn, sinh động hơn.

Thứ ba, cần quan tâm đến nhận thức về tâm lý, thị hiếu của công chúng văn học. Trong một hình dung thật đơn giản, người đọc chính là khách hàng tiêu thụ sản phẩm văn hóa, văn học. Như thế, để nâng cao văn hóa đọc, cần nắm bắt người đọc hiện nay thích gì, tìm kiếm điều gì từ văn học: Thị hiếu của người đọc luôn bất định, khó kiểm soát, cho nên điều quan trọng là văn học phải cố gắng đi đến một giới hạn đủ sức ghim vào trí nhớ, suy tưởng của người đọc. Những tác phẩm ở đó như một phần đời sống, thậm chí đi cùng họ suốt cuộc đời. Văn học đại chúng, ở bộ phận giải trí, có lẽ chưa nghĩ đến hay chưa xác lập được tư tưởng này, dẫu công chúng của nó có thể rất đông. Người đọc giờ đây ngày càng khó tính, có trình độ hơn, do vậy những tác phẩm tinh hoa, chứa đựng giá trị nhân bản sâu sắc vẫn là điều cần thiết. Câu chuyện thị hiếu của công chúng vì thế cần được hình dung cả ở tính nhất thời và tính lâu dài, cái gạt bỏ đi và điều còn giữ lại.

Thứ tư, việc hình thành thói quen, nhu cầu đọc sách có thể được xem là một giải pháp nâng cao văn hóa đọc. Vấn đề ở đây chính là sự phát triển có tính đồng bộ của chuỗi sản xuất, phát hành, tiêu thụ cũng như các hoạt động đồng hành, giáo dục, kích thích hứng thú, nâng cao nhu cầu đọc đối với công chúng ngay từ khi còn bé, trên ghế nhà trường. Nâng cao văn hóa đọc không đơn giản là đọc nhiều mà còn là chất lượng của việc đọc. Do vậy, bên cạnh việc kích thích hứng thú đọc, đọc nhiều, cần hướng bạn đọc tới các giá trị tinh hoa, nâng cao tầm đón đợi của công chúng văn học. Trước một cộng đồng đọc có trình độ, thị hiếu cao, ngay cả những tác phẩm văn học mạng, văn học đại chúng cũng cần phải tự nâng cao để đáp ứng nhu cầu bạn đọc.

Trong thực tế sinh động, đa chiều của các hệ giá trị, nhu cầu, thị hiếu của công chúng văn học, những giá trị có tính đại chúng, nhất thời sẽ khó có thể tồn tại lâu dài. Những giá trị cốt lõi, tinh hoa mới là đại diện cho bản sắc, tinh thần, văn hóa và văn học Việt Nam. Mỗi thời đại đều có những câu chuyện riêng. Di sản của quá khứ còn lại gì nếu không phải là những điều cốt lõi nhất của đời sống, của con người và nghệ thuật?!

Có thể bạn quan tâm