Ðồng Nai là một con sông lớn, phát nguyên ngay trên lãnh thổ Việt Nam, chảy qua vùng đất Việt Nam, đổ ra biển cũng thuộc Việt Nam. Người Việt đi khai phá ở phía cực nam chạm mặt đầu tiên với con sông này.
Cũng có ý kiến về chuyện "mang gươm đi mở cõi" của một số nhà nghiên cứu lịch sử, có vẻ không phù hợp lắm với công cuộc khẩn hoang nơi vùng xa lạ. Song, xét về mặt lịch sử, Nam tiến của dân tộc Việt Nam tuy có đặc thù là chủ yếu đối phó với thiên nhiên, hòa đồng với người bản địa sống rải rác đó đây, nên "mang gươm đi mở cõi" không chỉ là những cuộc hành quân đẫm máu, không chỉ là tiếng nói của sắt thép và vó ngựa, "mang gươm đi mở cõi" phản ánh những gian nguy trước chốn hoang sơ đầy thú dữ của buổi ban đầu. Thi pháp có quyền khái quát, miễn sự khái quát tạo được rung động và "mang gươm đi mở cõi" đã tạo được cái rung động ấy.
Ðất Ðồng Nai tiêu biểu cho cực nam nói chung, tất cả một vùng rộng lớn từ lưu vực sông Ðồng Nai qua lưu vực sông Vàm Cỏ và Cửu Long, đến tận sông rạch chi chít của Bạc Liêu, Cà Mau, không đâu là không ngày đêm "thương nhớ đất Thăng Long". Chúng ta biết, dân lưu tán vào nam không xuất xứ từ Thăng Long một cách trực tiếp. Họ là những người ở Ngũ Quảng, theo thời cuộc, tiến dần xuống phương nam và trong gia phả còn lưu giữ cho đến nay, số đông dân cư ở lưu vực sông Thu Bồn, sông Trà Khúc, sông Côn, sông Ba... Số người từ ven biển Bắc Bộ hoặc Bắc Trung Bộ vào nam không đông, bởi vượt biển đầy may rủi. Thế mà, định cư ở phương nam, tất cả đều ngó về Thăng Long, đến lượt nó Thăng Long - theo tên gọi này- còn 5 năm nữa mới tròn 1000 năm, nghĩa là "cái rốn" của người Việt không phải Thăng Long. Lâm Thao cổ xưa hơn, Mê Linh, Hoa Lư cũng vậy, được nhắc như nguồn gốc hơn là một trung tâm đại diện cho đất nước. Trước Thăng Long, chế độ đô hộ của người Trung Quốc đã từng lấy Long Biên làm trị sự Giao Châu. Cao Biền gọi đó là Ðại La. Ngay tên Hà Nội cũng... chưa thuần Việt lắm. Lý Thái Tổ, trong Chiếu dời đô, viết năm Canh Tuất (1010), đánh giá Thăng Long: "Ở vào nơi trung tâm đất trời; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Ðã đúng ngôi Nam Bắc Ðông Tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Ðịa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời".
Người ngày nay thông cảm với Vua ta thời Lý, khi trong Chiếu dời đô, nhà Vua nhắc chuyện nhà Thương, nhà Chu... ở Trung Quốc, thậm chí đề cao Cao Biền đã chọn đây làm trị sở cho An Nam Ðô hộ phủ, nhưng Thăng Long dính đến cách chọn kinh đô của các triều đại Trung Quốc không phải là chính, mà thực tế của Ðại Việt vào thời kỳ đó- Ðại Việt rộng đến Hà Tĩnh. Có thể xem đây là tuyên ngôn thành lập quốc đô thời kỳ nước ta tự chủ, trước cả tuyên cáo "Nam quốc sơn hà Nam đế cư".
Thăng Long đi vào tâm thức người Việt ở phương nam như biểu trưng cho cội nguồn, chen niềm tự hào lẫn nỗi đau trong những bước gập ghềnh suốt ngàn năm. Mặc dù có lúc Thăng Long không là Thủ đô, một số địa điểm khác thay thế như trường hợp Tây Ðô, rồi Huế (và Huế từng là kinh đô chính thức của vương triều Nguyễn), mặc dù có lúc Ðàng trong, Ðàng ngoài hình thành hai trung tâm khác nhau, có lúc cả thành Bình Ðịnh và Gia Ðịnh cũng là trung tâm, hoặc dưới thời thực dân Pháp, Pháp chia nước ta làm ba kỳ, mỗi kỳ có thủ phủ riêng... nhưng quy chế hành chính không thay được cho quy chế tinh thần, quy chế văn hóa mà chỉ Thăng Long mới đảm đương nổi. Thời kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nước ta tạm chia làm hai, kéo dài hơn 20 năm, với hai trung tâm là Hà Nội và Sài Gòn, nhưng ngay người Sài Gòn cũng hướng về Thăng Long. Nghĩa là Thăng Long lồng lộng không duy nhất vì nhiệm vụ Thủ đô mà chỉ cái khác cao xa hơn, sâu lắng hơn. Tức, Thăng Long có một địa chỉ cụ thể, đồng thời mang nghĩa khái quát, bao quát - gắn với nền văn minh sông Hồng, cội nguồn của dân tộc ta.
Thăng Long là một bộ phận vật chất trong con người Việt Nam, kể cả những người chưa từng một lần đặt chân lên đất Thăng Long. Tôi có thể lấy bản thân tôi làm thí dụ. Tôi tiếp xúc với Thăng Long - Hà Nội qua sách vở từ thuở mới có đôi hiểu biết, qua lời ru của mẹ, lời kể của cha - cả hai cũng chưa từng đến Thăng Long bao giờ. Lần đầu tiên tôi đến Hà Nội là tháng 11 năm 1969, khi Trung ương gọi tôi ra để nhìn mặt Bác Hồ lần cuối cùng tại Bệnh viện 108, trong quá trình các nhà khoa học đang tẩm liệm Bác. Một cái gì đó cực kỳ dạt dào "cựa quậy" trong con người tôi khi, qua cánh máy bay, thấy sông Hồng, thấy Hà Nội- Hà Nội thời chiến tranh. Cái Việt Nam trong tôi sống mãnh liệt khi từ Gia Lâm, tôi vượt cầu Long Biên, vào nội thành, mà tôi ghi trong ký ức: "Cầu Long Biên mỗi nhịp vòng tay". Làm thế nào giải trình cái tiềm ẩn kia trong mỗi người với Thăng Long, nó linh thiêng. Học giả Giản Chi, một nhà Hán học thuộc loại hàng đầu của nước ta, di cư vào nam sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, nay đã hơn 100 tuổi, lần ông gặp tôi mới nhất, cách đây không lâu, nhân lễ thọ ông 100 tuổi, mắt ông đã mờ, không xem truyền hình được, câu hỏi đầu tiên của ông là con đường Cổ Ngư nay ra sao, hồ Trúc Bạch, hồ Tây ra sao. Tôi báo với ông rằng con đường xuyên hồ Trúc Bạch, Hồ Tây nay tên là đường Thanh Niên, rộng lớn, nối đền Quán Thánh với đê Yên Phụ. Ông hỏi liền "Thế hàng cây ngày xưa còn không?", khi nghe tôi nói đường mở rộng nên phải thay đổi cây cối, ông chặc lưỡi: "Coi chừng làm mất cái đẹp của Thăng Long!". Chúng ta còn vô số chuyện liên quan đến những người dù lang bạt khắp năm châu bốn biển vẫn đau đáu với Thăng Long. Kể cả với những người chống cộng khét tiếng , sợi dây nối kết họ với đất nước là hình ảnh Hà Nội. Tôi đã gặp những người như thế ở Pháp, Ô-xtrây-li-a, Ca-na-đa, Mỹ. Thăng Long đã đồng nhất với Việt Nam, Việt Nam là Thăng Long và Thăng Long là Việt Nam- không kinh kỳ nào thay thế nổi- tôi xin nhắc lại, kể cả lúc Thăng Long không là Thủ đô.
Khi các nhà khảo cổ học nước ta phát hiện Hoàng thành Thăng Long, tôi được gọi ra Hà Nội để chứng kiến cuộc khai quật lịch sử này trước cái nền của các triều đại phế hưng, trước hai câu thơ của Bà huyện Thanh Quan mà ai cũng thuộc lòng, tôi đã khóc. Tôi không thể cắt nghĩa vì sao khóc, nhưng tôi đã khóc, thế thôi. Tôi hiểu rằng, dưới lớp phù sa, cố đô huy hoàng hơn phần còn sót trên mặt đất, song không phải là dinh cơ tráng lệ, nguy nga, bởi nước ta còn nghèo, chiến tranh xâm lược liên miên, khó đầu tư lớn cho Thăng Long, song nó vẫn thể hiện sự truyền nối qua bao nhiêu đổi thay thời cuộc. Có thể vì vậy mà Thăng Long thêm sâu đậm trong tâm tình người nước ta.
Thăng Long đóng vai trò là sợi dây vững bền kết các thế hệ người Việt với nhau. Do đó, nó là một gia tài đặc biệt trân quý của dân tộc.
Ðương nhiên, công nghiệp hóa, hiện đại hóa tác động không nhỏ vào hình hài của Thăng Long và như thế, khiến cho Thăng Long biến đổi đường nét nhất định. Chúng ta chấp nhận quy luật phát triển này, nhưng chúng ta sẽ không chấp nhận khi những nhà cao tầng tua tủa mọc lên làm mờ hẳn Thăng Long cổ kính. Không bảo thủ với những phố cũ chật chội, những con đường cản trở lưu thông vào thời đại hiện đại, nhưng tôi tự hỏi: Tại sao chúng ta không xây một thành phố Hà Nội hiện đại ở nơi khác và bảo tồn cái phần tinh túy của Thăng Long như bảo tồn chính linh hồn chúng ta?
Thăng Long quy tụ, lưu giữ hồ nước. Chính trị và kinh tế dù quan trọng đến đâu vẫn không thể cho phép một thành phố thực hiện trách nhiệm quy tụ, lưu giữ ấy. Thăng Long - gọi như ta đang gọi là Hà Nội - không cảm hóa hơn 80 triệu người Việt Nam bằng dáng vẻ hoành tráng, nhưng được cả nước hoành tráng tô điểm cho nó. Ở đâu trên đất Việt Nam mà không có hình bóng Thăng Long? Ngay Năm Căn tận chót mũi Cà Mau, vốn từ năm căn nhà đốt than khi người Việt đặt chân đến đây, mà đến đây:
Ðâu chỉ qua con đò bến hẹn
Ðường cuối phương Nam lắm rạch nhiều dòng
Ai đo nổi hành trình để quê ta trọn vẹn
Một lần nhen đượm mãi lửa sông Hồng...
(Ôi, những công dân đầu tiên đất mũi
Vượn với người dựng xóm Viên An
(Thơ HT)
Thăng Long - Hà Nội có tiềm lực chinh phục con người hết sức lớn lao: đó là nếp sống, phong cách, tư thế của con người đạt trình độ văn hóa Thăng Long. Viết tới đây, tôi chợt nhớ bài Thăng Long hành khúc cổ kính của Văn Cao:
Cùng ngước mắt nhìn về Thăng Long cao đứng...
Và nhớ cả Người Hà Nội tha thiết, dồn dã của Nguyễn Ðình Thi:
Ðây Thăng Long, đây Ðông Ðô, đây Hà Nội...
Thăng Long, Thủ đô chính trị, văn hóa, và trên hết, Thủ đô tinh thần của Việt Nam. Trong các thành phố lớn tiêu biểu cho các miền của đất nước ta, Huế là thành phố của sông núi; thành phố Hồ Chí Minh là sông rạch, còn Hà Nội là sông hồ. Sông hồ Hà Nội là sản phẩm của Thăng Long, là đặc sản Việt Nam. Ðặc sản vì nó đẹp.
Xin thuật thêm một chuyện: Một nhà tư sản ở Sài Gòn, chủ hãng sản xuất xe đạp và cũng là chủ hãng sản xuất đĩa hát, khi sắp qua đời vì bệnh, luôn để máy thu thanh bên cạnh, qua cơn hôn mê, chợt tỉnh, hỏi liền mấy người chung quanh: "Hà Nội bữa nay bắn rớt mấy chiếc máy bay Mỹ?". Lúc ấy, Hà Nội - Thăng Long đang ở vào cao điểm Ðiện Biên Phủ trên không, Hà Nội gọi, Sài Gòn trả lời - trong trả lời có tiếng nói của biệt động thành, của đặc công, của thanh niên, sinh viên, của trí thức, có cả của nhà tư sản - ông quê ở Vĩnh Kim, Mỹ Tho...
Sắp tới Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, cái gia công lớn nhất của mọi người Việt Nam là làm cho Thăng Long ngày mỗi đẹp hơn. Như liệt sĩ Ðặng Thùy Trâm, liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc, như hàng vạn đồng bào, chiến sĩ quê Hà Nội, đã đưa Thăng Long lên tầm thật cao... Ðưa tại Thăng Long - Hà Nội và đưa khắp nước ta: máu Thăng Long hòa trong từng vốc đất đủ ba miền, dài không kém tuổi thọ của Thăng Long...
Trần Bạch Ðằng