Thêm một sử thi đặc sắc của người Ê Ðê được công bố

Khan - sử thi Mđrong Ðăm do nghệ nhân Y Nuh Niê sinh sống ở buôn Ye', xã Êa Kênh, huyện Krông Pách, tỉnh Ðác Lắc kể; Ðỗ Hồng Kỳ, Y Wỏn (Phòng Văn hóa huyện Mađrak) và Nguyễn Thanh Ðỉnh (Phòng Văn hóa huyện Krông Pách) ghi âm năm 2002. Ama Bik phiên âm, Y Ðiêng dịch, NXB Khoa học xã hội xuất bản quý  I năm 2006.

Nghệ nhân Y Nuh Niê, năm nay 83 tuổi, thuộc nhóm Ê Ðê Kpă. Ông thật sự là một "báu vật sống" về văn nghệ dân gian của tộc người Ê Ðê. Ông Y Nuh Niê thuộc nhiều klei duê (tương đương với thành ngữ, tục ngữ, ca dao), kể thông thạo nhiều klei đưm (truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn). Hiện nay, nghệ nhân Y Nuh Niê là người duy nhất ở tỉnh Ðác Lắc - một trong hai trung tâm sử thi Ê Ðê - thuộc khá đầy đủ hàng chục khan - sử thi.

Trong tiếng Ê Ðê, Mđrong nghĩa là giàu có; còn đăm  là chàng trai tài giỏi, hùng mạnh.

Sự ra đời của Mđrong Ðăm mang vẻ khác thường, do mẹ chàng "ăn phải trái cây giữa thân, hái hoa rừng trên nguồn thác nên mới bụng mang dạ chửa một mình".

Mđrong Ðăm là người thông minh, tài trí, tài cưỡi ngựa, săn bắn, giỏi múa khiên, lia đao, chàng còn là người rất tài nghệ trong đàn hát.

Nhân vật Mđrong Ðăm là hình ảnh khá chân thật của người thợ săn trong cuộc sống. Trước đây, trong các buôn làng Ê Ðê thường có những người rất giỏi săn bắn thú rừng, đồng bào gọi là mnuih wagap (người thợ săn tài giỏi). Vào đầu mùa mưa - bắt đầu mùa săn bắn - người thợ săn để vợ ở nhà, dẫn theo một số người vào rừng săn bắn. Trong tác phẩm, Mđrong Ðăm nói với vợ mình rằng "Ðến mùa đốt cỏ, khi mầm non cỏ tranh mọc, anh sẽ vào rừng săn bắn"; Mđrong Ðăm "tay cầm ná, lưng đeo ống tên, vai vác cây chà gạc to". Mđrong Ðăm mải mê săn bắt trong rừng "để tìm thịt ngon, cá béo nuôi vợ". Nhân cơ hội này, nhiều tù trưởng giàu có lần lượt đến bắt vợ Mđrong Ðăm về làm vợ kế của họ. Ðó là nguyên nhân dẫn đến xung đột giữa Mđrong Ðăm và các tù trưởng.

Chiến tranh trong sử thi Mđrong Ðăm nói riêng và sử thi Ê Ðê nói chung không quy mô, thảm khốc đến mức hàng triệu người ngã gục, "xác chất thành núi, máu chảy thành sông" như trong sử thi Mahabharata của Ấn Ðộ, cũng không quyết liệt, đầy xung đột kịch như sử thi Iliat của Hy Lạp.

Kết thúc trận đánh, dân làng của tù trưởng bại trận, tự nguyên theo chủ mới là người thắng trận về buôn làng anh ta. Ở đây, tuyệt đối không thấy có việc chiếm đoạt đất đai, mở rộng lãnh địa. Ðiều này có sự trùng hợp với thực tế xưa kia hay ít ra cũng là hồi quang lịch sử của cư dân Ê Ðê vào tác phẩm khan. Người Ê Ðê sống trong một địa bàn rộng lớn, mà số dân lại quá ít, do vậy, chiếm cứ một vùng đất rộng lớn không phải là vấn đề đáng để họ phải quan tâm.

Khan Mđrong Ðăm đã phản ánh khá rõ nét xã hội Ê Ðê cổ xưa, một xã hội chưa có mâu thuẫn sâu sắc giữa người giàu với người nghèo, giữa chủ với tôi tớ. Những người giàu, có quyền hành trong buôn làng, đấy là Mtao. Tù trưởng (Mtao) có được tôi tớ không phải là do đi gây chiến tranh để chiếm đoạt, mà là trong cộng đồng có những ai đó nợ của cải, chẳng may làm cháy nhà, đánh nhau chết người, họ và gia đình không có khả năng đền bù, người giàu bỏ của cải ra đền bù, rồi mang người được cứu về nhà làm hlun cho nhà mình. Tuy là tôi tớ, nhưng những người này được đối xử như con cháu trong nhà.

Khan Mđrong Ðăm là bức tranh toàn cảnh về không gian địa lý và không gian xã hội của tộc người Ê Ðê. Ở đấy, từ khung cảnh của ngôi nhà dài, bến nước, nương rẫy, rừng cây, sông suối, đến trang phục, ăn uống, tín ngưỡng, phong tục tập quán, nghi lễ, cưới xin, xử kiện, trò chơi dân gian, đàn hát đều được nói đến một cách khá chân thực và sinh động. Một nửa không gian nhà dài - gian khách (gah) - được phác ra y như thật: "Mtao Tuôr đến nhà Mđrong Ðăm. Từ trên bành voi, ông ta nhảy xuống sàn hiên, từ sàn hiên nhảy đến ngạch cửa, từ ngạch cửa nhảy đến ghế kpan, nơi đánh chiêng, rồi nhảy đến cửa buồng của Hbia Sun". Khung cảnh vùng người Ê Ðê sinh sống hiện ra rất cụ thể, chân thực: "Họ đến bãi chăn trâu bò, nghe tiếng sáo diều kêu vi vu trên trời, họ nhìn thấy nương rẫy, nghe tiếng mõ lóc cóc cùng tiếng các cô gái đuổi chim... Ði một đoạn nữa thì thấy bến nước, tiếng người ồn ào. Khan Mđrong Ðăm có nhiều đoạn nói về tập tục của người Ê Ðê như là "ghi chép" dân tộc học. Ðây là đoạn nói về phong tục khi có khách đến nhà: "Cha Hbia Sun đem lửa ra gian ngoài chụm vào bếp, rồi mang bầu nước, cái bát đựng thuốc, trầu cau ra gian  ngoài đãi khách".

Trong nghi lễ, nhất là hội hè, đình đám, người Ê Ðê luôn luôn tập trung nhau để ăn uống. Vào những dịp như vậy bao giờ đồng bào cũng đánh chiêng, trống. Hiện thực đó đã được phản ánh vào khan: "Chiêng không cởi khỏi xà ngang, rìu không tháo khỏi cán, tiết trâu bò không lúc nào khô ở hiên nhà. Tiếng chiêng dồn dập, tiếng trống từng hồi, âm thanh vang tận trời cao. Ché tuk, ché bô cột thành hàng dài, khói thui trâu bò cuồn cuộn bay lên trời".

Khan Mđrong Ðăm phản ánh hiện thực theo hai cách thức chính: Trần thuật khách quan và phóng đại. Hai cách thức phản ánh này không tách bạch, mà đan xen vào nhau.

Khi nói về khả năng của người anh hùng trong chiến trận, các nghệ nhân khan thường hay dùng lối phóng đại hiện thực. Ðây là cảnh múa khiên của người anh hùng: "Mđrong Ðăm múa khiên, gió khiên xoáy như gió bão, tiếng vang như sấm rền. Mỗi lúc chàng xoay khiên mạnh làm bật gốc cây Knia". Còn đây là cảnh nhảy múa: "Trên bầu trời, ở đám mây đen, ai cũng thấy Mđrong Ðăm lướt đi lướt lại như con thoi. Người ta nhìn thấy Mđrong Ðăm lấp la lấp lánh như các vì sao". Lối phóng đại kiểu này đã tạo nên vóc dáng kỳ vĩ của nhân vật anh hùng sử thi.

Hiện thực cuộc sống của người Ê Ðê được phản ánh qua khan vừa là hiện thực khách quan, vừa là cái hiện thực được hướng theo lý tưởng thẩm mỹ của người Ê Ðê, tức là những cái có thể có hoặc cần phải có, dù chỉ là trong mơ ước.

Cũng như nhiều sử thi khác của người Ê Ðê, Mđrong Ðăm là một sử thi có giá trị văn học cao. Nhiều đoạn trong tác phẩm này như có chất men say hấp dẫn người đọc: "Ðàn bò đi lại như đàn kiến vàng, đàn trâu nườm nượp nối đuôi nhau như đàn kiến đen đang bò... Phía trên bến nước có cây đa, cây sung đang mùa quả chín, chim chóc ăn quả đa, kêu râm ran trời đất","Anh đến đây từ ngọn núi biết khóc, từ dòng sông biết hát".

Có nhà nghiên cứu đã nói đến khả năng biểu đạt kỳ diệu của khan, đặc biệt về mặt âm thanh và tạo hình làm thỏa mãn thính giác và thị giác của người nghe, khiến cho người ta tưởng đó như là một thứ "ma thuật" nào đấy. Trong sử thi Mđrong Ðăm, tiếng chiêng cũng được biểu đạt một cách thần kỳ: "Tiếng chiêng làm khỉ, vượn quên bám cành cây, thỏ ngừng ăn, chồn nghỉ đào hang, chuột, sóc quên ăn lúa... đánh nhè nhẹ tiếng chiêng bò theo phên nhà lên xà ngang, xà dọc. Tiếng chiêng làm chim gõ kiến quên mổ cành cây, chim cu đất quên nhặt hạt cỏ, chuột, sóc ngừng làm ổ đẻ con, chồn, cáo nằm lặng im, chim muốn hót theo tiếng chiêng mà mỏ như dài thêm. Tiếng chiêng vang lừng khắp xứ".

Nhiều nhà nghiên cứu trong nước và một số học giả nước ngoài cũng đều coi Ðăm San là một kiệt tác. K.Pautovski từng giới thiệu rất nhiều các kiệt tác của nhân loại, nhà văn Nga kết luận rằng: Một tiếng ngỗng kêu trên bầu trời hay đơn giản là "mảnh trăng nhún mình trong nước", đó chính là kiệt tác. Trong khan - sử thi Mđrong Ðăm có nhiều đoạn thăng hoa khi nói về âm thanh cũng như về tạo hình làm nên cái lung linh đến mê hoặc người nghe. Dù hiểu quan niệm của K.Pautovski về kiệt tác ở mặt tượng trưng hay cụ thể thì vẫn thấy trong sử thi Mđrong Ðăm có nhiều phẩm chất của một kiệt tác văn chương.

Có thể bạn quan tâm