Sống “thuận thiên” trước biến đổi khí hậu

Gần đây, hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở, sụt lún và thời tiết cực đoan ngày càng tác động rõ nét đến sản xuất và đời sống người dân tỉnh Vĩnh Long. Trước những thách thức đó, nhiều hộ dân đã chủ động thay đổi phương thức sản xuất, thuận theo tự nhiên để xây dựng sinh kế bền vững.

Mô hình lúa-tôm thích ứng với biến đổi khí hậu tại xã An Qui, tỉnh Vĩnh Long.
Mô hình lúa-tôm thích ứng với biến đổi khí hậu tại xã An Qui, tỉnh Vĩnh Long.

Chủ động thay đổi để thích ứng

Mấy năm nay, gia đình ông Phan Văn Triệu, ngụ xã An Qui, thành viên Hợp tác xã Lúa-Tôm Thạnh Phú chuyển từ sản xuất lúa truyền thống sang mô hình lúa-tôm. Trên diện tích 1,1 ha, gia đình ông dành khoảng 0,7 ha trồng lúa, phần còn lại làm mương bao để nuôi thủy sản. Theo ông Triệu, mô hình lúa-tôm phù hợp điều kiện tự nhiên của địa phương, nhất là khi nguồn nước ngọt ngày càng thiếu ổn định, xâm nhập mặn diễn biến phức tạp. Mỗi năm, gia đình thu hoạch lúa, cua, tôm sú mang lại lợi nhuận gần 100 triệu đồng. “Mô hình này lợi nhuận không cao bằng nuôi tôm công nghiệp nhưng có tính bền vững, gần như không bị lỗ. Cây lúa và con tôm hỗ trợ nhau, hạn chế sử dụng hóa chất nên sản phẩm sạch, chất lượng tốt, bán được giá cao hơn”, ông Triệu chia sẻ.

Không chỉ chuyển đổi mô hình sản xuất, nhiều hộ dân còn chủ động giảm vụ, điều chỉnh lịch thời vụ để thích ứng với điều kiện tự nhiên thay đổi. Gia đình bà Phạm Nhựt Linh, ngụ xã Lương Hòa có 3,5 ha đất chuyên trồng lúa. Bà Linh cho biết: “Trước đây, nước ngọt quanh năm cho nên gia đình có thể trồng ba vụ lúa. Nhưng những năm gần đây, năm nào nước mặn cũng tràn về, có vụ bị ảnh hưởng, thiệt hại. Vì vậy, gia đình chuyển xuống còn hai vụ để chủ động thích ứng”.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, giảng viên cao cấp Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên, Đại học Cần Thơ, nhận định: Thời tiết cực đoan đang đặt Đồng bằng sông Cửu Long trước nhiều sức ép, từ nắng nóng gay gắt, hạn hán, xâm nhập mặn sâu vào nội đồng, mưa lớn bất thường đến sạt lở bờ sông, bờ biển và sụt lún đất. Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng cao cùng những biến động khó lường của dòng chảy thượng nguồn đang làm thay đổi chế độ nước, tác động đến hệ sinh thái và sản xuất nông nghiệp. Tôm, cá và các loài thủy sản chịu ảnh hưởng; năng suất cây trồng giảm, trong khi sinh kế và thu nhập của người dân ngày càng đứng trước nhiều rủi ro. Trong bối cảnh đó, nhiều mô hình sinh kế thích ứng đã được hình thành và phát triển như tôm-lúa, nuôi trồng thủy sản sinh thái, du lịch sinh thái dưới tán rừng, nông nghiệp tuần hoàn. Những mô hình này không chỉ giúp người dân duy trì sản xuất mà còn từng bước hình thành phương thức khai thác tài nguyên phù hợp điều kiện tự nhiên.

Giải pháp để sinh kế thích ứng đi vào chiều sâu

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Bình, Viện Mekong, Đại học Cần Thơ cho rằng, để các mô hình thích ứng phát triển bền vững vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần tháo gỡ, như: Không ít mô hình tạo ra sản phẩm chất lượng nhưng thiếu hợp đồng bao tiêu, nhãn mác, truy xuất nguồn gốc và thương hiệu; khi thị trường biến động, người sản xuất dễ bị ép giá, khó tiêu thụ. Trong khi đó, nguồn vốn, tín dụng xanh và năng lực quản trị của các hợp tác xã, tổ hợp tác còn hạn chế khiến nhiều mô hình hiệu quả nhưng khó nhân rộng. “Thích ứng với biến đổi khí hậu không chỉ là thay đổi cây trồng, vật nuôi mà phải tổ chức lại sản xuất, thị trường và chuỗi giá trị theo hướng lâu dài”, ông Bình nhấn mạnh.

Theo các chuyên gia, phục hồi hệ sinh thái đất ngập nước là một trong những giải pháp quan trọng giúp người dân Vĩnh Long và các tỉnh trong vùng thích ứng biến đổi khí hậu. Phục hồi hệ sinh thái không có nghĩa là cấm đoán sản xuất hay để tự nhiên hoang hóa, mà là tìm cách chung sống hài hòa, tôn trọng quy luật của đất, nước và sinh vật.

Một trong những hướng đi được đề xuất là thay vì sản xuất manh mún, các hộ dân và hợp tác xã cần liên kết hình thành vùng sản xuất tập trung; cùng quản lý nguồn nước, chia sẻ ao lắng, xây dựng vùng đệm sinh thái. Việc kết hợp kinh nghiệm sản xuất truyền thống với khoa học, công nghệ, nhất là các ứng dụng cảnh báo sớm thời tiết, hạn mặn và dịch bệnh sẽ giúp người dân chủ động hơn trước những biến động bất thường. Đồng thời, cần thúc đẩy nông nghiệp tuần hoàn, tận dụng phụ phẩm của ngành này làm đầu vào cho ngành khác; phát triển các mô hình lúa-tôm, sử dụng phân hữu cơ, phân trùn quế; chế biến sâu các sản phẩm đặc sản dưới tán rừng gắn với phát triển du lịch sinh thái. Qua đó, vừa nâng cao giá trị sản phẩm, vừa giảm chất thải và áp lực lên môi trường.

Giám đốc Ban Quản lý Dự án CSAT Trà Vinh Hồng Ngọc Hưng cho rằng: Tìm kiếm những phương thức sinh kế mới có khả năng thích ứng cao, tạo thu nhập ổn định cho người dân vùng ngập nước là yêu cầu cấp thiết. Dự án IFIA đang được triển khai trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long hướng tới kết nối chặt chẽ giữa kết quả nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn, giữa khoa học-công nghệ với nguồn lực tài chính. Thông qua các hoạt động của dự án, những khoảng trống về đổi mới sáng tạo trong sinh kế vùng đất ngập nước sẽ được nhận diện rõ hơn, từ đó lựa chọn những giải pháp có khả năng thử nghiệm, nhân rộng trong thực tế.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lâm Thái Hùng, Phó Giám đốc Đại học Trà Vinh, đổi mới sáng tạo không nhất thiết bắt đầu từ những công nghệ phức tạp mà có thể từ việc tối ưu các mô hình hiện có, kết hợp tri thức bản địa với khoa học hiện đại, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải thiện chuỗi giá trị và tiếp cận nguồn vốn phù hợp. Để hướng đi này phát huy hiệu quả, cần sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân. Qua đó, các mô hình sinh kế thích ứng không chỉ giúp người dân ứng phó với những thách thức trước mắt mà còn tạo nền tảng cho phát triển bền vững ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Có thể bạn quan tâm