Hồi chiêng 'boong, boong...' ngân dài báo hiệu một canh hát ả đào bắt đầu. Trong gian chính của đền Quán Ðế, những ca nương, kép đàn ngồi trên một chiếc sập cổ. Khói trầm thoang thoảng bay khiến không gian trở nên trầm mặc. 'Hồng hồng tuyết tuyết... mới ngày nào còn chửa biết cái chi chi...', cái âm sắc trong vắt, như được dồn nén bởi chính nỗi lòng của ca nương rồi bật ra vang vọng, hòa cùng tiếng sênh phách và tiếng trầm đục của chiếc đàn đáy. Chiếc mành tre ngăn cách khán giả và ca nương được từ từ kéo lên, những ca nương trong trang phục áo dài của thiếu nữ Hà thành những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, dần hiện ra. Có lẽ, chẳng cần am tường về âm nhạc, người nghe cũng cảm nhận được những âm thanh như từ quá khứ vọng về, qua chất giọng mộc, tiếng đàn mộc. Ðể rồi, lòng người nghe xao xuyến theo từng nhịp sênh phách. Người ta quên đi sự ồn ào của phố phường, ngoài bậu cửa. Mỗi tối thứ bảy hằng tuần, không gian cổ xưa ấy lại được tái hiện ở đền Quán Ðế, số 28 phố Hàng Buồm, bởi những đào nương, đào đàn, kép đàn của Giáo phường Thăng Long...
Hai năm trước, ca trù đã làm rạng danh nền nghệ thuật Việt Nam bằng việc được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Thời điểm đó, nhiều khách nước ngoài đến Việt Nam đã tỏ ý muốn thưởng thức ca trù. Và nhiều người hiểu được 'số phận' gian nan của loại hình âm nhạc bác học này. Ðược nhân loại biết đến, nhưng hầu hết các câu lạc bộ, các giáo phường xuân thu nhị kỳ mới có dịp biểu diễn đôi lần. Các loại hình nghệ thuật truyền thống khác như: chèo, tuồng, cải lương đều có nhà hát riêng, được cơ quan quản lý nhà nước tạo điều kiện bảo tồn và phát triển, trong khi ca trù - một di sản của nhân loại - thì không có được sự ưu ái này. Cả nước, chỉ có Giáo phường Thăng Long (một hình thức hoạt động đặc biệt của ca trù, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định từ xa xưa để lại về tổ chức, hoạt động biểu diễn, truyền dạy nghề, trách nhiệm của học trò đối với thầy...) là giáo phường duy nhất tổ chức biểu diễn định kỳ, tại đình Giảng Võ. Ngôi đình khá đẹp, nhưng nằm sâu trong con ngõ nhỏ, cho nên không phù hợp cho quảng bá đến với công chúng, nhất là với du khách nước ngoài. Mãi tới dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, Ban Quản lý phố cổ Hà Nội phối hợp Giáo phường Thăng Long, xây dựng một ca quán theo đúng nghĩa. Nhiều người bảo đó là 'châu về hợp phố', khi một trong những sản phẩm tinh túy nhất của nghệ thuật đất Thăng Long, được sống dậy trong không gian của những di sản - phố cổ. Mới đi vào hoạt động được nửa năm, một khoảng thời gian chưa dài, nhưng ca quán ở đền Quán Ðế đã góp phần tạo thêm sức hấp dẫn riêng cho phố cổ. Với riêng Giáo phường Thăng Long, biểu diễn tại phố cổ cũng là một bước tiến lớn. Trước kia, Giáo phường biểu diễn ở đình Giảng Võ hoàn toàn miễn phí. Kể cả không có khán, thính giả, vẫn biểu diễn... cho nhau nghe. Giờ, Giáo phường có thêm chút kinh phí từ biểu diễn từ việc bán vé. Ðể trở thành một 'quan viên' thưởng thức một canh hát, khán giả trong nước trả 100 nghìn đồng, khách nước ngoài trả 10 USD. Khi ra mắt Giáo phường Thăng Long, ca nương Phạm Thị Huệ - người điều hành chính hoạt động của giáo phường, muốn khôi phục lại sinh hoạt ca trù như xưa. Ngoài ra, giữa canh hát, người nghe được giới thiệu về lịch sử ca trù, cũng như các nhạc cụ sử dụng trong hát ca trù bằng song ngữ Anh - Việt.
Gặp ca nương Phạm Thị Huệ sau canh hát, chị không giấu nổi vẻ vội vã. Sau canh hát, các đào nương, đào đàn, kép đàn lại dành thời gian luyện tập. Sức khỏe chị Huệ không tốt, cho nên chị không thường xuyên vào vai đào nương trong canh hát, nhưng cứ sau buổi diễn, chị vẫn truyền dạy những kỹ thuật nén hơi, nhả chữ, buông câu cho các bạn trẻ. Có người nói giá vé vào cửa cao, nhưng có chứng kiến mới thấu hiểu nỗi vất vả của cả người gắn bó với môn nghệ thuật này. Mỗi canh hát như thế, giáo phường phải huy động hơn mười người phục vụ. Ðể có thể biểu diễn được như vậy, những ca nương, kép đàn miệt mài hàng chục năm ròng khổ luyện. Mỗi canh hát, thường cũng chỉ có mươi, mười lăm người xem. Số tiền thu được cũng chỉ dừng ở mức 'bồi dưỡng', theo đúng nghĩa đen. May mắn, Giáo phường Thăng Long tập hợp nhiều giọng ca trẻ. Những đào nương Lệ Nhật, Thùy Linh, Thùy Chi... đều là những ca nương tuổi 8X. Hầu hết các bạn trẻ đều đã và đang học tại Học viện Âm nhạc quốc gia Hà Nội. Học viện không dạy hát ca trù, chơi đàn đáy. Họ tự tìm đến những nghệ nhân ca trù rồi theo học bằng đam mê. Ca nương trẻ tuổi nhất của giáo phường là em Nguyễn Huệ Phương, mới 12 tuổi, nhưng đã có sáu năm theo học ca trù.
Một giờ đồng hồ sống trong không gian ca trù bỗng dưng trở nên ngắn ngủi. Một số vị khách nước ngoài còn lưu lại để hỏi thêm về ca trù. Ðiểm thú vị nhất trong đêm diễn, là sự xuất hiện của nhiều khán giả là sinh viên Trường đại học Văn hóa. Khi được hỏi, các bạn đều nói rằng đến để tìm hiểu, và hiểu rất ít. Nhưng không vì thế mà chúng tôi cảm thấy buồn. Bởi lẽ, chính một số ca nương của Giáo phường Thăng Long cũng từng... trải qua những giai đoạn như thế. Ðào nương Thùy Chi là một thí dụ. Lần đầu nghe ca trù, Thùy Chi chỉ cảm thấy một ấn tượng lạ và khó hiểu. Nhưng chính ấn tượng lạ đó đã thôi thúc Thùy Chi đến nghe buổi thứ hai. Và giờ, Thùy Chi đã trở thành một thành viên của Giáo phường Thăng Long. Thùy Chi kể rằng: Các bạn trẻ thường nghĩ rằng ca trù là thể loại nhạc dành cho những người già và hoàn toàn xa lạ với lớp trẻ. Trước kia, khi chưa hiểu về ca trù, Chi cũng nghĩ như vậy. Nhưng khi đã được tiếp xúc, Thùy Chi thấy hoàn toàn khác. 'Các bạn hãy thử thả hồn theo nét nhạc, hãy thử một lần cảm nhận về giai điệu truyền đời, hãy thư giãn để tự tâm hồn mình bay bổng. Hãy cảm nhận bằng cả tâm hồn, những dòng chảy từ trong huyết quản của con người bạn được truyền lại từ thời xa xưa sẽ được khơi gợi, bạn sẽ hiểu, đơn giản vì nó chính là linh hồn của dân tộc Việt Nam, nó nằm sẵn trong mỗi con người Việt Nam', Thùy Chi tâm sự. Rất có thể trong những bạn trẻ đến nghe canh hát ca trù hôm nay, sẽ có bạn đến buổi thứ hai, thứ ba... Ðó là cơ sở để ta hy vọng vào sự hồi sinh của môn nghệ thuật này.