“Rẽ người mà đi, vịn tay mà đến”

Ðiện Biên có một vị thế kỳ lạ, vừa mang trong mình những huyền tích từ thuở người Thái đen theo thủ lĩnh Pú Lạng Chượng làm chủ Mường Thanh từ thế kỷ 11, vừa là mảnh đất hào hùng của 56 ngày đêm “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt”. Từng ấy năm, rất nhiều Mùa lạc đã qua, sự thay đổi của vùng đất có cánh đồng lớn nhất Tây Bắc làm ngỡ ngàng cả với chính người trong cuộc - những người để lại tuổi trẻ và niềm tin trên mảnh đất này suốt những năm gian khó.

Bên tượng đài chiến thắng Ðiện Biên Phủ.        Ảnh: Ðăng Khoa
Bên tượng đài chiến thắng Ðiện Biên Phủ.        Ảnh: Ðăng Khoa

Thời “thành phố toàn hố bom”

Ngoài 80 tuổi, cụ Phan Văn Long, người chiến sĩ tham gia đào hầm trong trận đánh đồi A1 vẫn nhớ cảm giác anh em đồng đội ngã xuống ngay trước mắt mình: “Ngày đánh đồi A1, chúng tôi đào 20 cái huyệt cho chính mình”. Năm 1958, nghe lời kêu gọi của Ðảng, Chính phủ, hai vợ chồng cụ trở lại Ðiện Biên khai hoang. Việc đầu tiên của những thanh niên vừa rời tay súng chính là lấp những hầm hào ngày xưa mình đào, những hố bom, gỡ dây thép gai để dựng nhà, làm ruộng: “Cả thành phố toàn hố bom”.

Bà Nguyễn Thị Minh, cựu thanh niên xung phong (TNXP) nông trường Ðiện Biên tình nguyện lên đây năm 1959. Ngày đầu đến Ðiện Biên, đi bè qua sông Nậm Rốm, bà trượt chân ngã, tưởng gửi mạng cho hà bá, may được cứu. Một mình ở đất Ðiện Biên nuôi con chờ chồng - cũng là một TNXP Ðiện Biên, tham gia đoàn xe “xẻ dọc Trường Sơn”, ấn tượng của bà khi đó là những bãi bom dọc đường đi, những bụi cây hoang hoải khắp cả vùng Mường Thanh rộng lớn. Chồng bà không về, ông nằm lại mãi đất Quảng Trị, đến giờ chưa tìm được hài cốt...

Mãi đến cả những năm 80, 90 của thế kỷ 20, đường lên Ðiện Biên, qua Pha Ðin vẫn là ấn tượng không bao giờ quên. Bà Vũ Thị Cửu, người bản Noong Hẹt, ngày ấy mới ngoài 30, một mình từ quê Thái Bình đưa ba đứa con gái lên Ðiện Biên. Chuyến đi ngược Tây Bắc của bốn mẹ con kéo dài tới 15 ngày, vì phải chuyển xe qua mấy tỉnh. “Xe qua đèo Pha Ðin thì hỏng đèn, chập tối sương mù, phụ xe phải xuống soi đèn pin, vừa đi vừa run, qua được Pha Ðin là mệt lả”. Hàng vạn người đã ngược Ðiện Biên những ngày ấy, mang theo niềm tin rằng, đất ấy sẽ bao dung mình.

Những thế hệ đầu tiên của Ðiện Biên sau năm 1954, có mấy ai quên cảm giác rừng thiêng nước độc, thú dữ gõ cửa, những cánh đồng chỉ một vụ rải rác và những vùng hoa chó đẻ tím bạt ngàn như trêu ngươi. Bí thư Ðảng ủy xã Mường Phăng Lò Văn Biên kể, những năm 60 thế kỷ trước, nơi đây chung quanh toàn rừng, khỉ nhiều hơn người, hổ báo vẫn vào bản bắt trâu, bò thường xuyên.

“Cuộc sống vĩ đại đã trở lại rồi”

Nhà văn Nguyễn Khải đã viết như thế trong Mùa lạc. Gần 60 năm sau chiến thắng Ðiện Biên lịch sử, vùng đất hoang vu đã là một khu đô thị. “Nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc”, cánh đồng Mường Thanh diện tích hơn 140 km2, trải dài hơn 20 km đang là biểu tượng cho sự trù phú của vùng lòng chảo Ðiện Biên với gạo tám Ðiện Biên ngon có tiếng. Ðể có được cánh đồng ấy, vùng đất Ðiện Biên ghi tên của hàng vạn TNXP phá đá mở đường, ngăn dòng đắp đập. Ông Trần Công Chính, “kiện tướng” gánh đất công trường Nậm Rốm, một mình ông, mỗi chuyến gánh từ 70 kg đến 1 tạ đất, xi-măng. Ước mơ giản dị của chàng thanh niên Hưng Yên 18 tuổi khi đó là có cái đòn gánh đủ khỏe để gánh không bị gãy. Gánh khỏe đến mức thành tên, người ta gọi ông là Chính “trâu”. Ông Lò Ngọc Duyên, “kiện tướng” đan sọt, làm ngày đêm để đủ sọt cho anh em gánh đất đá. Ông Nguyễn Văn Niệm, ăn uống kham khổ là thế vẫn mỗi tay cắp một bao xi-măng đi phăm phăm.

Giữa TP Ðiện Biên, có một nghĩa trang nhỏ, nằm khiêm tốn phía sau nhiều ngôi nhà mới xây - nơi an nghỉ của 18 TNXP đã vĩnh viễn nằm lại trên công trường Nậm Rốm. Mới chỉ có hai người được xác định tên, số còn lại bia mộ để trống. “Cái ngày dẫn nước, thấy cả dòng nước trắng xóa ào về, tôi rưng rưng nước mắt”, ông Trần Công Chính nhớ lại. Năm 1969, công trình chính thức hoàn thiện. Năm đó Mường Thanh được mùa to, từ một vụ chuyển thành hai vụ. Công trình Ðại thủy nông Nậm Rốm với hai hệ thống kênh chính dài 40 km, hơn 40 năm nay, vẫn thực hiện trọn vẹn nhiệm vụ đưa nước tưới cho cánh đồng Mường Thanh.

Chúng tôi lên Ðiện Biên muộn mất một tuần. Cụ Lò Văn Ðọ, người chiến sĩ Ðiện Biên cuối cùng của đất Mường Phăng, một trong những người tham gia giữ rừng Ðại tướng năm xưa, vừa mới ra đi. Bố ông Lò Văn Biên, cụ Lò Văn Bóng, liên lạc viên cho Ðại tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch, cũng đã qua đời đúng Giao thừa năm 2013. Thế hệ từ những ngày chiến dịch “lừng lẫy Ðiện Biên, chấn động địa cầu” ở Mường Phăng giờ chỉ còn lại cụ Lù Thị Ðôi cũng đã 100 tuổi. Nhưng câu chuyện về các cụ thì người Mường Phăng vẫn nhớ. Cụ Bóng nổi tiếng là một trong những người bảo vệ quyết liệt khu rừng Ðại tướng trước nạn lâm tặc. Bảy người lính, vào những năm 70 thế kỷ trước đã giữ rừng Mường Phăng một cách bền bỉ và tự nguyện, không đòi hỏi chế độ gì. Gần nửa thế kỷ, cụ Bóng cùng những đồng đội răn dạy con cháu bằng chân lý đơn giản: “Ðấy là di tích, cần phải bảo vệ”, từ khi chưa hề có con đường vào Mường Phăng, chưa hề có điện kéo đến xã.

“Nay dạt dào đã chín trái đầu xuân”

Hơn 500 km đường quốc lộ từ Hà Nội lên Ðiện Biên, qua đèo Pha Ðin mới đã thôi những khúc quanh co hiểm trở thuở “Dốc Pha Ðin chị gánh anh thồ”. Pha Ðin cũ chỉ còn dành cho những kẻ thích mạo hiểm, trên đó vẫn còn tấm bia ghi lại chiến tích của dân công Tây Bắc trong 56 ngày đêm. Máy bay Hà Nội - Ðiện Biên, ngày hai chuyến vẫn cung không đủ cầu. Chuyến xe khách từ Hà Nội lên Ðiện Biên theo đường quốc lộ 6, nói không ngoa là xe khách hiện đại nhất cả nước bây giờ. Long, anh bạn dẫn đường cho chúng tôi, lăn lộn ở Ðiện Biên gần 15 năm. Tốt nghiệp đại học, từ bỏ công việc ở một cơ quan nhà nước, Long xung phong tình nguyện lên Mường Nhé, huyện xa nhất Ðiện Biên, cực Tây Tổ quốc. Hai vợ chồng Long mới chuyển công tác về thành phố Ðiện Biên từ năm 2009. Hồi đám cưới, Long xin ứng trước cơ quan được sáu triệu đồng, vừa đủ thuê hai chuyến xe cho ngày ăn hỏi và cho ngày cưới. Không ảnh cưới, không váy cưới, không cỗ cưới, phòng tân hôn đúng là túp lều nhìn thấy cả mảng trời. Thế nhưng họ vẫn ở lại, sau bao nhiêu sóng gió, đủ gây dựng một gia đình nho nhỏ ba người, dù nhà vẫn đi thuê. Giống như một sự tiếp nối, vẫn luôn có những thế hệ sinh ra lớn lên, tìm đến và kiên nhẫn ở lại.

Ông Chính đã chọn Ðiện Biên làm nơi lập nghiệp sau khi công trình Nậm Rốm hoàn thành. Con trai ông, Trần Ðức Nghĩa, tốt nghiệp đại học, từ bỏ công việc tốt đã được sắp xếp tại Hà Nội, về với Ðiện Biên, và trở thành bác sĩ đầu ngành khoa Mắt hiện nay tại tỉnh, hiện giờ là Phó Giám đốc Bệnh viện đa khoa tỉnh. Ông Chính hồ hởi bảo, “Ðời tôi mong muốn nhất có bằng đại học, mà không được. Bây giờ trong tám đứa con dâu rể, có bốn thạc sĩ, con cả sắp làm xong nghiên cứu sinh. Tất cả đều quyết ở lại Ðiện Biên”.

Ông Lò Văn Biên vẫn đang tiếp tục công việc giữ rừng ngày nào của bố. Ông không giấu việc phá rừng Mường Phăng vẫn có: “Mỗi năm xảy ra một, hai lần. Vừa xử lý rất nặng mấy vụ đấy. Càng giữ càng phá mạnh. Nhưng quan trọng là nhận thức, ngăn chặn hết không phải một sớm một chiều đâu”. Bốn thế hệ nhà cụ Bóng đã gắn bó với Mường Phăng. Mường Phăng giờ vẫn còn một bản Co Liếu chưa có điện, vì nhà dân ở rải rác quá, có đường cao áp đã qua rồi nhưng vẫn chưa kéo điện về được. Ðường vào Mường Phăng, nâng cấp từ hồi kỷ niệm 50 năm chiến thắng Ðiện Biên, cũng đã xuống cấp nhiều.

Rừng Mường Phăng cuối năm rực rỡ dã quỳ, lác đác thấy hoa ban bắt đầu nở trên đường lên tượng đài chiến thắng. Mấy chục năm “Rẽ người mà đi, vịn tay mà đến” (Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên), bao thế hệ gửi lại tuổi trẻ miền Tây Bắc, đâu có dễ dàng để có được không gian yên bình thế này.

Chúng tôi gặp một tốp học sinh đang chơi đùa trên khẩu pháo trưng bày ở đồi D1. Hỏi bố mẹ các cháu làm gì, cả đám tíu tít: “Bố cháu là bộ đội biên phòng”, “Bố cháu làm giáo viên”, kể cả: “Bố cháu đi tù, buôn ma túy”...

Gần 60 năm sau chiến thắng, vẫn còn nhiều thứ cần phải làm ở mảnh đất này.