Bến Hải - Vang vọng bài ca thống nhất

Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 đã biến dòng Bến Hải thành con sông chia đôi đất nước. Người Việt Nam phải trải qua một hành trình xương máu hơn 20 năm để cây cầu nối nhịp. Vì thế, nhắc đến biểu tượng của khát vọng thống nhất, nơi đầu tiên được nhắc đến là cây cầu và dòng sông nằm ngay trên vĩ tuyến 17 này!

Ngày hội đua thuyền trên sông Bến Hải. Ảnh: MINH HOÀN
Ngày hội đua thuyền trên sông Bến Hải. Ảnh: MINH HOÀN

Tượng đài khát vọng

Nhà văn Ngô Thảo là một người dân Vĩnh Linh “thứ thiệt”, cho dù bây giờ, ông sinh sống ở hai nơi: Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Thời trai trẻ không nói làm gì, bây giờ ở tuổi ngoài 70, cũng đã từng mấy bận vào sinh ra tử, nhưng năm nào ông cũng không dưới mươi lần về quê. Và mỗi lần qua cầu Hiền Lương, ông bao giờ cũng chầm chậm bước. Ông là một nhà văn, nhưng trước hết ông là con dân đất Vĩnh Linh. Năm năm trước, chuẩn bị kỷ niệm 55 năm ký Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954-2009), với tư cách Chủ tịch Hội đồng hương Vĩnh Linh tại Hà Nội, ông Ngô Thảo đã gửi về huyện nhà bản đề xuất tôn tạo khu di tích đôi bờ Hiền Lương mang vẻ đẹp của một biểu tượng thống nhất và hàn gắn. Là nơi đất nước đã qua sông trên những chiếc thuyền nan, đằng đẵng hai mươi năm ấy có tỉnh, thành phố nào trên cả nước lại không có những con em đi qua dòng Bến Hải? Vì thế, nếu mỗi tỉnh, thành phố đầu tư xây dựng một công trình mang biểu tượng của tỉnh mình bên bờ sông này, chúng ta sẽ có một công viên mang dấu ấn của mọi miền.

Năm 2005, kỷ niệm 30 năm thống nhất đất nước, trong lễ dâng đất đắp vào kỳ đài Hiền Lương, có nắm đất thiêng được mang về từ Lạng Sơn địa đầu biên cương phía bắc và tảng phù sa đất mũi Cà Mau còn mặn vị bùn lấn biển đất phương nam. Hai nắm đất ở hai địa đầu chữ S thiêng liêng này cũng được hòa vào đất dưới chân kỳ đài. Năm 2010, dịp lễ hội kỷ niệm 35 năm, thêm một nghi lễ hòa nước thiêng ở những suối sông đất Việt vào dòng sông này. Ðoàn đại biểu của tỉnh Cao Bằng mang ống bương đựng nước từ nguồn Pác Bó, đại biểu từ Hậu Giang mang bầu nước lấy từ sông Hậu của miền đất “chín nhánh Cửu Long” cùng hòa vào dòng sông Bến Hải. Ðất ngấm trong đất, nước hòa trong nước, câu chuyện ở Hiền Lương là một tuyên ngôn rằng không một thế lực nào có thể cắt chia Tổ quốc này, dân tộc này.

Nâng niu ký ức

Câu chuyện đôi bờ sông tuyến là những truyền kỳ bất tận nhưng cũng vô cùng cụ thể. Cụ thể, nhưng cũng đầy tính biểu tượng. Nếu ngày chiến tranh câu chuyện về cột cờ Hiền Lương là biểu tượng của bất khuất và chiến thắng, chuyện mẹ Diệm ngồi vá cờ trong căn hầm dưới mưa bom bão đạn là biểu tượng của người Mẹ Việt Nam với tình yêu Tổ quốc tha thiết và quật cường... thì ngày hòa bình trở lại, những ký ức gắn với đôi bờ sông này lại rất được trân trọng, nâng niu.

Ở trụ sở Ðài Tiếng nói Việt Nam, 58 Quán Sứ, Hà Nội có một kỷ vật được trưng bày trang trọng ngay trước sân, đó là chiếc loa cực đại với dấu vết của vô số mảnh đạn bom chi chít khi chiếc loa này được treo bên bờ Bắc dòng sông trong những cuộc “đấu loa”, nhưng ít ai biết có những câu chuyện bi tráng gắn với những chiếc loa như thế từ hệ thống tiếp âm của anh chị em Ðài Truyền thanh Vĩnh Linh. Mùa đông năm 1968, một trận bom B52 ném xuống xã Vĩnh Hòa, nơi đặt cơ sở của đài. Cả Vĩnh Hòa tan nát sau trận bom ấy, riêng đài Vĩnh Linh có bốn người hy sinh, trong đó có cả gia đình người trưởng đài. Ðau thương càng khiến những người còn lại của đội ngũ ấy thầm hứa với nhau bằng mọi giá giữ cho tiếng loa không tắt.

Hay giờ đây, đi trên chiếc cầu thép được phục chế giống hệt chiếc cầu hồi năm 1954 là cả một hành trình rất dài: Sau khi cây cầu mới trên QL 1A thông xe, thể theo nguyện vọng của nhân dân cả nước nhằm lưu giữ một chứng tích đặc biệt, Bộ Giao thông vận tải và UBND tỉnh Quảng Trị quyết định sẽ phục chế đúng nguyên trạng của cây cầu trong giai đoạn lịch sử nói trên gồm hai nhịp dầm thép Eiffel hai đầu mố và năm nhịp Bailey ở giữa. Bộ Giao thông vận tải chỉ đạo các đơn vị trong cả nước nỗ lực tìm kiếm những nhịp cầu cũ đang còn lại trên địa bàn, nếu đúng như kiểu dáng của cây cầu cũ được lưu giữ trong hình ảnh tư liệu, sẽ bằng mọi giá ưu tiên đưa về cho công trình phục chế cầu Hiền Lương. Năm nhịp dầm dã chiến Bailey thì đã có tại Khu quản lý đường bộ 4, khó nhất là tìm ra hai nhịp Eiffel. Sau bao nhiêu nỗ lực kiếm tìm, cuối cùng người ta cũng phát hiện ra hai nhịp dầm thép Eiffel đúng như người Pháp đã thiết kế cầu Hiền Lương năm xưa đang... nằm tại Sở Giao thông vận tải Gia Lai. Lệnh “điều động” đưa ngay hai nhịp dầm trên từ Gia Lai vượt cả nghìn cây số về tận Vinh để sửa sang gia cố đúng như nguyên trạng để sau đó chuyển vào Quảng Trị.

Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị...

Mỗi con người trên mảnh đất này dường như đều mang trong mình một mảnh ghép của xứ sở. Trở lại với câu chuyện của nhà văn Ngô Thảo, mùa hè vừa rồi, tôi may mắn được ông mời về dự lễ khánh thành nhà bia tưởng niệm của gia tộc họ Ngô của ông ở Vĩnh Nam, Vĩnh Linh.

Tính ra, nhà văn Ngô Thảo là đời thứ tư của dòng họ Ngô đất này. Chữ khắc trên bia ghi đời thứ nhất, vị khai khẩn là ông Ngô Tính, quê quán ở Thủy Cần, Vĩnh Kim, Vĩnh Linh, là con trai trưởng trong gia đình cụ Ngô Tình. Ông bà có bốn người con.

Cụ Ngô Tăng, người con trai duy nhất nối dõi tông đường thành đời thứ hai của họ Ngô chính là ông nội của nhà văn Ngô Thảo. Ông Ngô Tăng và bà Trần Thị Choai đã là cơ sở cách mạng của các đồng chí Lê Duẩn và nhiều nhà cách mạng khác từ những năm 1928-1945. Ông bà sinh ra bảy người con và tất cả đều là những chiến sĩ cách mạng hoạt động từ tiền khởi nghĩa. Như ông Ngô Sừ, người con trai cả (bố của nhà văn Ngô Thảo) tham gia cách mạng từ năm 1928, đồng sáng lập chi bộ Ðảng CS Việt Nam đầu tiên ở Vĩnh Linh, Bí thư Huyện ủy Vĩnh Linh năm 1945, sau đó hy sinh. Mộ ông Ngô Sừ nay vẫn nằm ở Nghĩa trang liệt sĩ huyện. Ông Ngô Sòa, đảng viên từ năm 1940, Chỉ huy lực lượng vũ trang Vĩnh Linh năm 1945, sau này cũng hy sinh. Một liệt sĩ khác là ông Ngô Sà, cũng tham gia cách mạng từ năm 1936. Với ba người con là liệt sĩ, bà nội của ông Ngô Thảo - cụ bà Trần Thị Choai - được truy tặng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Câu chuyện gia tộc của ông là một minh chứng điển hình về những người con quê hương Vĩnh Linh trung trinh bất khuất. Sự hy sinh ấy không phải là ngày một ngày hai mà truyền đời nối kiếp, như những hồng cầu cách mạng luân chuyển trong những dòng gia phả thắm đỏ tạc lên đá hoa cương!

Sáu mươi năm kể từ ngày Vĩnh Linh thành “lũy thép - lũy hoa”, mấy trăm năm rồi từ khi câu ca dao “Thương em anh cũng muốn vô, sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang” ra đời. Truông nhà Hồ nay là một đô thị Hồ Xá sầm uất, thủ phủ văn hóa kinh tế cho cả một vùng bắc Quảng Trị. Từ chân sóng Cửa Tùng lên phố mới Bến Quan, nhịp đời mới đang sinh sôi. Tháng 10 năm rồi, cơn bão số 10 và 11 quét qua Vĩnh Linh, hàng nghìn héc-ta cao-su gãy đổ, nói kiểu nông dân là “bể nồi cơm”. Nhưng rồi người Vĩnh Linh không gục ngã. Bí thư Huyện ủy Vĩnh Linh hiện nay là Nguyễn Ðăng Quang, anh vốn người quê Hải Lăng, từng là Bí thư Tỉnh đoàn. Hôm ngồi với nhau sau bão, hóa ra Quang có làm thơ, những cảm xúc rất thật khi nhìn những vườn cao-su, hồ tiêu bị bão quật không thương tiếc, để rồi: “Ta sẽ cùng nhau vượt những gian nan/ Vỡ đất lên, rừng cây ta trồng lại/ Ðể quê mình mãi ngọt lành hoa trái/ Ðau thương qua còn lại những ân tình...”.

Ân tình chính là điều còn lại, hằng cữu và bất biến trên mảnh đất Vĩnh Linh.